Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn học. Hiển thị tất cả bài đăng
Cái bóng cười
Bob Andy và Peter Crentch đang về nhà. Hai bạn còn cách Rocky ba cây số, thì buộc phải bật đèn xe đạp lên. Vào mùa đông đêm xuống rất nhanh ở vùng núi nam Caliornie.
- Đáng lẽ, Peter nói, bọn mình phải lên đường về nhà sớm hơn.
- Ôi! Bob mỉm cười đáp. Mình không hối tiếc đã ở lại lâu hơn. Tắm thích quá!
Hai bạn vừa mới có một buổi chiều vui vẻ trên núi, tắm trong nước mát của dòng thác. Không có gì làm lu mờ sự thích thú của hai bạn, trừ việc Hanibal Jones, sếp của bộ ba thám tử,? không đi cùng được. Thật vậy,? hôm nay chú Titus cần Hanibal phải ở lại Thiên Đường Đồ Cổ để giúp việc.
Mệt nhừ nhưng vui sướng, hai cậu đạp xe dọc theo một bờ tường cao rào quanh một khu nhà, thì một tiếng lạ vang lên trong đêm:
- Cứu với!
Peter ngạc nhiên thắng gắt và dừng lại đột ngột. Bob va vào bạn.
- Úi! Lưu Trữ Nghiên Cứu càu nhàu.
- Cậu nghe không? Peter thì thầm.
Peter dựng xe đạp lên và ngạc nhiên nhìn bức tường chìm trong bóng tối.
- Mình có nghe, có thể có ai đó bị thương?
Khi đứng yên lắng tai nghe, hai bạn nghe như có tiếng chà vào tường phía bên kia.
Rồi tiếng kêu lại vang lên lần nữa:
- Cứu!
Lần này không thể lầm được nữa. Một kẻ vô danh đang yêu cầu được cứa giúp. Cách hai bạn không xa lắm, trong tường có cái cổng với sắt đầu nhọn như mũi lao.
Không do dự, Peter thả xe đạp ra, chạy đến cổng sắt. Bob lao theo sau. Đột nhiên Lưu Trữ Nghiên Cứu không nén nổi tiếng thốt lên pha lẫn sự ngạc nhiên và đau đớn:
- Úi da!
Một vật ném qua tường vừa mới trúng tay Bob... một vật cứng và nhỏ nảy trên đất trong bóng tối. Peter cúi xuống lượm lên:
- Đây! Mình tìm ra rồi!
Cả hai cùng xem vật trong tay Peter, đó là một pho tượngbé tí bằng kim loại sáng. Tượng hình một người đàn ông dáng vẻ lạ lùng, mỉm cười, ngồi xếp bằng.
- Cái gì vậy hả Peter?
- Đừng hỏi mình, chắc là cái gì đó để treo đâu đó. Trên đầu thằng người có cái khoen.
- Ai đã ném nó qua bức tường, Bob thì thầm, có thể...
Bob bị ngắt lời bởi những tiếng ồn ào không rõ phía sau tường rào. Có người đang bước nặng nề giữa bụi cây. Rồi tiếng nói vang lên:
- Nó đã vứt một cái gì đó ra ngoài, ra xem đi!
- Em sẽ tìm ngay thưa sếp, giọng nói thứ nhì đáp.
Một bàn tay vô hình bắt đầu mở cái cổng nặng nề. Peter và Bob nhanh nhẹn nhìn thấy có bụi cây gần đó liền đẩy xe đạp vào đó trốn.
Cổng mở ra với tiếng cót két. Một cái bóng hiện ra giữa hàng cây sau cổng. Hai thám tử nín thở, căng mắt nhìn qua lá bụi cây. Cái bóng tiến lại gần bụi cây, xa hơn, rồi tiến ra ngoài đường cái.
- Cậu có nhìn thấy đó là ai không? Bob thì thầm.
- Không! Trời tối quá!
- Bọn mình nên mang trả cái tượng nhỏ này không, dường như nó cũng quí giá đấy.
- Mình nghĩ...? nhìn kìa!
Một bóng đen vừa mới xuất hiện cách chỗ trốn của hai thám tử có hai bước. Hai cậu lặng người đi. Cái bóng cao trội hẳn lên, trông nó cao, hơi khoèo,gù nữa. Hai thám tử để ý đến cái mũi rất dài, hình mỏ chim, và cái đầu nhỏ, động đậy không giống người, như để nhìn khắp mọi phía.
Đột nhiên một tiếng cười quỉ quái vang lên trong bóng tối. Tiếng cười xuất phát từ cái bóng kì dị kia, gần sát bên hai thám tử. Peter và Bob hoảng sợ cảm thấy muốn bỏ chạy thật nhanh. Nhưng tiếng cười đã ngưng trong khi cái bóng đáng sợ hỏi bằng một giọng bình thường:
- Mày không tìm thấy cái gì hết phải không? Thôi kệ, bây giờ trời quá tối rồi!
- Dạ đúng thưa sếp, người đàn ông đứng xa hơn một chút trên đường trả lời.
Cái bóng gù có tiếng cười kì quặc chờ cho người kia về tới chỗ mình. Rồi cả hai trở vào trong khu nhà, cái cổng cót két đóng lại phía sau lưng. Peter bà Bob vẫn nấp trong bụi rậm cho đến khi cổng đóng hẳn và tiếng bước chân của hai cái bóng kia đã xa dần.
- Cậu có thấy tên kia không? Bob hỏi nhỏ.Cái tên có cái đầu kì quặc ấy. Và tiếng cười nữa, tiếng cười khủng khiếp... là cái gì vậy?
- Mình không biết và mình không muốn biết chút nào. Peter đáp.
- Bọn mình hãy về nhanh và kể cho Hanibal nghe những gì đã thấy tối nay.
- Đúng, ý kiến hay!
Hai thám tử leo lên xe đạp và lại lao nhanh trên đường. Hai bạn chưa đi được đến khúc quẹo thứ nhất thì tiếng cười hoang dại lại vang lên phía sau lưng. Hai thám tử tiếp tục đạp kịch liệt và chỉ vững lòng đạp chậm lại khi nhìn thấy ánh đèn thành phố Rocky.
- Giống như vàng khối! Hanibal Jones tuyên bố.
Trông sếp của ba thám tử trẻ thật minh mẫn khi nghiên cứu pho tượng nhỏ bé.
- Có giá hả? Bob hỏi thăm.
- Chắc là có, Hanibal gật đầu. Không chỉ vì bằng vàng.
- Kìa Babal, Peter bắt bẻ. Có gì quí hơn vàng đâu?
Bức tượng nhỏ óng ánh giữa các ngón tay của Hanibal.
- Các cậu hãy xem, Hanibal nói, mức độ chạm trổ tinh vi của vật này.Chắc chắn là tác phẩm của một nghệ nhân tài giỏi. Xem đôi mắt nhỏ xíu này, cái đầu đội mũ lông vũ này. Có lẽ đây là cái bùa cổ, hình một người da đỏ. Mình đã từng thấy những cái giống như vậy trong các viện bảo tàng.
Ba thám tử trẻ đang tập họp trong chiếc xe lán cũ dùng làm bộ tham mưu.
Trong khi Peter và Bob kể cho xong cuộc phiêu lưu trên núi, Hanibal vẫn tiếp tục xem bức tượng nhỏ bằng vàng. Cuối cùng Hanibal thở dài:
- Vậy các cậu nghĩ chính người kêu cứu đã vứt bức tượng nhỏ này ra khỏi tường à? Và cũng theo các cậu, hai người đàn ông, mà các cậu nhìn thấy, đã tóm được kẻ đáng thương kia và đã ra ngoài để tìm lại pho tượng nhỏ?
- Đối với bọn mình thì quá hiển nhiên, Bob trả lời.
- Nhưng không nhất thiết tiếng kêu cứu và pho tượng nhỏ có liên quan với nhau. Các cậu khẳng định mà không hề có bằng chứng nào cả.
Peter phản đối:
- Kìa Babal!Đồng ý là một thám tử không được đưa ra kết luận vội vàng! Nhưng trong sự việc này,mọi chuyện hiển nhiên đập vào mắt.Bọn mình đã nghe tiếng kêu, pho tượng nhỏ đã bị vứt qua tường, rồi hai gã đàn ông kia đã ra ngoài để tìm lại pho tượng, và một tên gọi tên kia bằng sếp! Nghe rất giống bọn cướp.
- Có thể, nhưng một lần nữa không có mối liên quan gì giữa tiếng kêu và pho tượng nhỏ hết.
- Cậu nghĩ sao về cái bóng kì lạ? Bob hỏi.Mình chưa bao giờ thấy ai có vóc dáng và tiếng cười kì lạ như vậy.
- Này, các cậu có thể mô tả tiếng cười đó cho mình nghe không?
- Giống tiếng con nít cười, Peter nói.
- Không, giống tiếng phụ nữ cười hơn, Bob chỉnh.
- Hay giống tiếng của thằng khùng.
- Căng thẳng và như hoảng sợ.
- Hay thậm chí giống tiếng cười xấu xa của một người đàn ông.?
- Phải... hơi giống tiếng cười của một ông già đang sợ hãi.
- Rõ quá. Hanibal thắc mắc nói. Tóm lại tiếng cười có thể là của bất kì ai. Không ai trong hai cậu có thể mô tả nổi tiếng cười đó. Dường như hai cậu nghe khác nhau nữa kìa. Đến mức mình tự hỏi không biết hai cậu có thật sự nghe tiếng kêu cứu nữa không.
Cái đó thì có nghe chứ! Peter và Bob đồng thanh kêu lên.??
Nét mặt Hanibal tỏ ra hết sức thắc mắc.
- Theo như các cậu mô tả địa điểm, mình nghĩ các cậu ở ngay trước khu nhà Sandow.
- Tất nhiên! Bob kêu lên. Một khu nhà rộng lớn, đáng lẽ mình phải biết.
- Khu nhà chủ yếu gồm đất vùng núi, Hanibal nói thêm, nhưng xưa kia cha của bà Sandow nuôi rất nhiều gia súc.
- Bây giờ họ không còn gia súc nữa hả? Peter hỏi.
- Không còn, Bob trả lời. Mình nhớ là có đọc khá nhiều về khu này ở thư viện thành phố. Cha của bà Sandow là người cuối cùng làm cho khu nhà sinh lời. Khi ông chết con gái ông là người thừa kế duy nhất. Bà sống ẩn dật, không bao giờ gặp được bà.
Bob rất thích tìm tòi ở thư viện thành phố và luôn biết đủ thứ chuyện về đủ loại chủ đề. Thông tin của Bob luôn chính xác. Hanibal kết luận:
- Nghĩa là những gì các cậu đã nghe và thấy là khá bất thường, các cậu à. Những người đàn ông đó làm gì trong nhà bà Sandow và pho tượng nhỏ từ đâu ra?
- Hay là tượng nhỏ thuộc một lô đồ vật lấy cắp từ nhà bà Sandow? Peter gợi ý.
- Nhưng bà đâu có gì quí giá đâu, Bob nhận xét.
Hanibal, vẻ mặt băn khoăn, vẫn đang lật xuôi lật ngược pho tượng nhỏ trong taỵĐột nhiên mắt Hanibal sáng lên.
- Chuyện gì vậy sếp? Bob hỏi.
Hanibal vẫn đang xem xét ph tượng nhỏ bé. Các ngón tay táy máy phần đế tượng. Đột nhiên cậu thốt lên một tiếng kêu đắc thắng: phần dưới pho tượng nhỏ mở ra, một vật gì đó rơi xuống đất.
- Ngăn mật! Peter kêu lên.
Hanibal lượm mẩu giấy nhỏ xíu rớt ra từ pho tượng, mở nó ra và để lên bàn.
- Bức thông điệp hả? Bob kích động hỏi.
- Mình cũng không hiểu nữa, Hanibal cắn môi thú nhận.Đúng là có một cái gì đó viết trên giấy nhưng bằng một thứ tiếng mà mình không biết.
Bob và Peter cúi xuống nhìn mảnh giấy.
- Đúng vậy, Bob thất vọng thừa nhận. Không hiểu gì hết.
Đột nhiên Bob tròn mắt:
- Nhưng... nhưng, Bob cà lăm, cái này không viết bằng mực! Đó là máu!
- Cậu nói đúng, Hanibal nói. Đây là máu. Nói cách khác kẻ viết bức thông điệp này phải viết bằng cách không có bút, không có mực.
- Chắc là tù nhân, Bob nhận xét.
- Trừ phi một tên cướp muốn cắt đứt với băng của hắn.
- Ta có thể đưa ra rất nhiều giả thiết nên mình nghĩ đây là một vụ hết sức thích hợp với Ba thám tử trẻ. Việc đầu tiên cần làm là tìm một người có khả năng dịch cho ta bức thông điệp này.
- Tất nhiên rồi!Nhưng người nào?
- Thì... chúng ta quen một người biết đủ thứ tiếng trên thế giới và cũng quen đủ loại người có thể giúp chúng ta.
- bác Alfred Hitchcock! Peter la lên.
- Đúng, Hanibal xác nhận.Tối nay thì trễ quá rồi, nhưng sáng mai chúng ta sẽ đi gặp bác và cho bác xem bức thông điệp.
- Đáng lẽ, Peter nói, bọn mình phải lên đường về nhà sớm hơn.
- Ôi! Bob mỉm cười đáp. Mình không hối tiếc đã ở lại lâu hơn. Tắm thích quá!
Hai bạn vừa mới có một buổi chiều vui vẻ trên núi, tắm trong nước mát của dòng thác. Không có gì làm lu mờ sự thích thú của hai bạn, trừ việc Hanibal Jones, sếp của bộ ba thám tử,? không đi cùng được. Thật vậy,? hôm nay chú Titus cần Hanibal phải ở lại Thiên Đường Đồ Cổ để giúp việc.
Mệt nhừ nhưng vui sướng, hai cậu đạp xe dọc theo một bờ tường cao rào quanh một khu nhà, thì một tiếng lạ vang lên trong đêm:
- Cứu với!
Peter ngạc nhiên thắng gắt và dừng lại đột ngột. Bob va vào bạn.
- Úi! Lưu Trữ Nghiên Cứu càu nhàu.
- Cậu nghe không? Peter thì thầm.
Peter dựng xe đạp lên và ngạc nhiên nhìn bức tường chìm trong bóng tối.
- Mình có nghe, có thể có ai đó bị thương?
Khi đứng yên lắng tai nghe, hai bạn nghe như có tiếng chà vào tường phía bên kia.
Rồi tiếng kêu lại vang lên lần nữa:
- Cứu!
Lần này không thể lầm được nữa. Một kẻ vô danh đang yêu cầu được cứa giúp. Cách hai bạn không xa lắm, trong tường có cái cổng với sắt đầu nhọn như mũi lao.
Không do dự, Peter thả xe đạp ra, chạy đến cổng sắt. Bob lao theo sau. Đột nhiên Lưu Trữ Nghiên Cứu không nén nổi tiếng thốt lên pha lẫn sự ngạc nhiên và đau đớn:
- Úi da!
Một vật ném qua tường vừa mới trúng tay Bob... một vật cứng và nhỏ nảy trên đất trong bóng tối. Peter cúi xuống lượm lên:
- Đây! Mình tìm ra rồi!
Cả hai cùng xem vật trong tay Peter, đó là một pho tượngbé tí bằng kim loại sáng. Tượng hình một người đàn ông dáng vẻ lạ lùng, mỉm cười, ngồi xếp bằng.
- Cái gì vậy hả Peter?
- Đừng hỏi mình, chắc là cái gì đó để treo đâu đó. Trên đầu thằng người có cái khoen.
- Ai đã ném nó qua bức tường, Bob thì thầm, có thể...
Bob bị ngắt lời bởi những tiếng ồn ào không rõ phía sau tường rào. Có người đang bước nặng nề giữa bụi cây. Rồi tiếng nói vang lên:
- Nó đã vứt một cái gì đó ra ngoài, ra xem đi!
- Em sẽ tìm ngay thưa sếp, giọng nói thứ nhì đáp.
Một bàn tay vô hình bắt đầu mở cái cổng nặng nề. Peter và Bob nhanh nhẹn nhìn thấy có bụi cây gần đó liền đẩy xe đạp vào đó trốn.
Cổng mở ra với tiếng cót két. Một cái bóng hiện ra giữa hàng cây sau cổng. Hai thám tử nín thở, căng mắt nhìn qua lá bụi cây. Cái bóng tiến lại gần bụi cây, xa hơn, rồi tiến ra ngoài đường cái.
- Cậu có nhìn thấy đó là ai không? Bob thì thầm.
- Không! Trời tối quá!
- Bọn mình nên mang trả cái tượng nhỏ này không, dường như nó cũng quí giá đấy.
- Mình nghĩ...? nhìn kìa!
Một bóng đen vừa mới xuất hiện cách chỗ trốn của hai thám tử có hai bước. Hai cậu lặng người đi. Cái bóng cao trội hẳn lên, trông nó cao, hơi khoèo,gù nữa. Hai thám tử để ý đến cái mũi rất dài, hình mỏ chim, và cái đầu nhỏ, động đậy không giống người, như để nhìn khắp mọi phía.
Đột nhiên một tiếng cười quỉ quái vang lên trong bóng tối. Tiếng cười xuất phát từ cái bóng kì dị kia, gần sát bên hai thám tử. Peter và Bob hoảng sợ cảm thấy muốn bỏ chạy thật nhanh. Nhưng tiếng cười đã ngưng trong khi cái bóng đáng sợ hỏi bằng một giọng bình thường:
- Mày không tìm thấy cái gì hết phải không? Thôi kệ, bây giờ trời quá tối rồi!
- Dạ đúng thưa sếp, người đàn ông đứng xa hơn một chút trên đường trả lời.
Cái bóng gù có tiếng cười kì quặc chờ cho người kia về tới chỗ mình. Rồi cả hai trở vào trong khu nhà, cái cổng cót két đóng lại phía sau lưng. Peter bà Bob vẫn nấp trong bụi rậm cho đến khi cổng đóng hẳn và tiếng bước chân của hai cái bóng kia đã xa dần.
- Cậu có thấy tên kia không? Bob hỏi nhỏ.Cái tên có cái đầu kì quặc ấy. Và tiếng cười nữa, tiếng cười khủng khiếp... là cái gì vậy?
- Mình không biết và mình không muốn biết chút nào. Peter đáp.
- Bọn mình hãy về nhanh và kể cho Hanibal nghe những gì đã thấy tối nay.
- Đúng, ý kiến hay!
Hai thám tử leo lên xe đạp và lại lao nhanh trên đường. Hai bạn chưa đi được đến khúc quẹo thứ nhất thì tiếng cười hoang dại lại vang lên phía sau lưng. Hai thám tử tiếp tục đạp kịch liệt và chỉ vững lòng đạp chậm lại khi nhìn thấy ánh đèn thành phố Rocky.
- Giống như vàng khối! Hanibal Jones tuyên bố.
Trông sếp của ba thám tử trẻ thật minh mẫn khi nghiên cứu pho tượng nhỏ bé.
- Có giá hả? Bob hỏi thăm.
- Chắc là có, Hanibal gật đầu. Không chỉ vì bằng vàng.
- Kìa Babal, Peter bắt bẻ. Có gì quí hơn vàng đâu?
Bức tượng nhỏ óng ánh giữa các ngón tay của Hanibal.
- Các cậu hãy xem, Hanibal nói, mức độ chạm trổ tinh vi của vật này.Chắc chắn là tác phẩm của một nghệ nhân tài giỏi. Xem đôi mắt nhỏ xíu này, cái đầu đội mũ lông vũ này. Có lẽ đây là cái bùa cổ, hình một người da đỏ. Mình đã từng thấy những cái giống như vậy trong các viện bảo tàng.
Ba thám tử trẻ đang tập họp trong chiếc xe lán cũ dùng làm bộ tham mưu.
Trong khi Peter và Bob kể cho xong cuộc phiêu lưu trên núi, Hanibal vẫn tiếp tục xem bức tượng nhỏ bằng vàng. Cuối cùng Hanibal thở dài:
- Vậy các cậu nghĩ chính người kêu cứu đã vứt bức tượng nhỏ này ra khỏi tường à? Và cũng theo các cậu, hai người đàn ông, mà các cậu nhìn thấy, đã tóm được kẻ đáng thương kia và đã ra ngoài để tìm lại pho tượng nhỏ?
- Đối với bọn mình thì quá hiển nhiên, Bob trả lời.
- Nhưng không nhất thiết tiếng kêu cứu và pho tượng nhỏ có liên quan với nhau. Các cậu khẳng định mà không hề có bằng chứng nào cả.
Peter phản đối:
- Kìa Babal!Đồng ý là một thám tử không được đưa ra kết luận vội vàng! Nhưng trong sự việc này,mọi chuyện hiển nhiên đập vào mắt.Bọn mình đã nghe tiếng kêu, pho tượng nhỏ đã bị vứt qua tường, rồi hai gã đàn ông kia đã ra ngoài để tìm lại pho tượng, và một tên gọi tên kia bằng sếp! Nghe rất giống bọn cướp.
- Có thể, nhưng một lần nữa không có mối liên quan gì giữa tiếng kêu và pho tượng nhỏ hết.
- Cậu nghĩ sao về cái bóng kì lạ? Bob hỏi.Mình chưa bao giờ thấy ai có vóc dáng và tiếng cười kì lạ như vậy.
- Này, các cậu có thể mô tả tiếng cười đó cho mình nghe không?
- Giống tiếng con nít cười, Peter nói.
- Không, giống tiếng phụ nữ cười hơn, Bob chỉnh.
- Hay giống tiếng của thằng khùng.
- Căng thẳng và như hoảng sợ.
- Hay thậm chí giống tiếng cười xấu xa của một người đàn ông.?
- Phải... hơi giống tiếng cười của một ông già đang sợ hãi.
- Rõ quá. Hanibal thắc mắc nói. Tóm lại tiếng cười có thể là của bất kì ai. Không ai trong hai cậu có thể mô tả nổi tiếng cười đó. Dường như hai cậu nghe khác nhau nữa kìa. Đến mức mình tự hỏi không biết hai cậu có thật sự nghe tiếng kêu cứu nữa không.
Cái đó thì có nghe chứ! Peter và Bob đồng thanh kêu lên.??
Nét mặt Hanibal tỏ ra hết sức thắc mắc.
- Theo như các cậu mô tả địa điểm, mình nghĩ các cậu ở ngay trước khu nhà Sandow.
- Tất nhiên! Bob kêu lên. Một khu nhà rộng lớn, đáng lẽ mình phải biết.
- Khu nhà chủ yếu gồm đất vùng núi, Hanibal nói thêm, nhưng xưa kia cha của bà Sandow nuôi rất nhiều gia súc.
- Bây giờ họ không còn gia súc nữa hả? Peter hỏi.
- Không còn, Bob trả lời. Mình nhớ là có đọc khá nhiều về khu này ở thư viện thành phố. Cha của bà Sandow là người cuối cùng làm cho khu nhà sinh lời. Khi ông chết con gái ông là người thừa kế duy nhất. Bà sống ẩn dật, không bao giờ gặp được bà.
Bob rất thích tìm tòi ở thư viện thành phố và luôn biết đủ thứ chuyện về đủ loại chủ đề. Thông tin của Bob luôn chính xác. Hanibal kết luận:
- Nghĩa là những gì các cậu đã nghe và thấy là khá bất thường, các cậu à. Những người đàn ông đó làm gì trong nhà bà Sandow và pho tượng nhỏ từ đâu ra?
- Hay là tượng nhỏ thuộc một lô đồ vật lấy cắp từ nhà bà Sandow? Peter gợi ý.
- Nhưng bà đâu có gì quí giá đâu, Bob nhận xét.
Hanibal, vẻ mặt băn khoăn, vẫn đang lật xuôi lật ngược pho tượng nhỏ trong taỵĐột nhiên mắt Hanibal sáng lên.
- Chuyện gì vậy sếp? Bob hỏi.
Hanibal vẫn đang xem xét ph tượng nhỏ bé. Các ngón tay táy máy phần đế tượng. Đột nhiên cậu thốt lên một tiếng kêu đắc thắng: phần dưới pho tượng nhỏ mở ra, một vật gì đó rơi xuống đất.
- Ngăn mật! Peter kêu lên.
Hanibal lượm mẩu giấy nhỏ xíu rớt ra từ pho tượng, mở nó ra và để lên bàn.
- Bức thông điệp hả? Bob kích động hỏi.
- Mình cũng không hiểu nữa, Hanibal cắn môi thú nhận.Đúng là có một cái gì đó viết trên giấy nhưng bằng một thứ tiếng mà mình không biết.
Bob và Peter cúi xuống nhìn mảnh giấy.
- Đúng vậy, Bob thất vọng thừa nhận. Không hiểu gì hết.
Đột nhiên Bob tròn mắt:
- Nhưng... nhưng, Bob cà lăm, cái này không viết bằng mực! Đó là máu!
- Cậu nói đúng, Hanibal nói. Đây là máu. Nói cách khác kẻ viết bức thông điệp này phải viết bằng cách không có bút, không có mực.
- Chắc là tù nhân, Bob nhận xét.
- Trừ phi một tên cướp muốn cắt đứt với băng của hắn.
- Ta có thể đưa ra rất nhiều giả thiết nên mình nghĩ đây là một vụ hết sức thích hợp với Ba thám tử trẻ. Việc đầu tiên cần làm là tìm một người có khả năng dịch cho ta bức thông điệp này.
- Tất nhiên rồi!Nhưng người nào?
- Thì... chúng ta quen một người biết đủ thứ tiếng trên thế giới và cũng quen đủ loại người có thể giúp chúng ta.
- bác Alfred Hitchcock! Peter la lên.
- Đúng, Hanibal xác nhận.Tối nay thì trễ quá rồi, nhưng sáng mai chúng ta sẽ đi gặp bác và cho bác xem bức thông điệp.
Alfred Hitchcock
(sưu tầm)
(sưu tầm)
Con Quạ
"... Poe đã viết một bài thơ nổi tiếng mà tất cả chúng ta đều biết, nổi tiếng quá đáng bởi đó không phải là một trong những bài thơ hay nhất của ông: bài Con quạ. Sau đó, trong một cuộc nói chuyện ở Boston, ông đã giải thích quá trình sáng tác bài thơ.
Đầu tiên, ông nhận thấy vai trò quan trọng của điệp khúc, sau đó ông nghĩ đến ngữ âm của tiếng Anh. Ông khẳng định rằng hai âm dễ ngân vang và có hiệu quả nhất của tiếng Anh là “o” và “r”. Thế là ngay lập tức ông tìm ra cụm từ never more, "không bao giờ nữa".
Khởi đầu chỉ có vậy. Sau đó xuất hiện một vấn đề: phải làm sao để hợp lý hóa việc nhắc đi nhắc lại hai từ này, bởi vì nói chung nếu để một người làm việc đó thì không được tự nhiên lắm. Ông tự nhủ không được quá lý trí, và điều đó dẫn ông tới ý tưởng về một con chim biết nói. Ông đã nghĩ tới vẹt, nhưng loài chim này không có được những phẩm chất mà thơ ca đòi hỏi. Thế là ông chọn một con quạ. Nói một cách trung thực, khi đó ông đang đọc cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens, Barnaby Rudge, trong đó có chuyện một con quạ. Thế là ông có một con quạ tên là Never more và nó không ngừng nhắc lại tên mình. Đó là tất cả những gì Edgar Poe có lúc ban đầu.
Sau đó ông tự nhủ: sự kiện nào đáng buồn nhất, đau khổ nhất? Chắc chắn đó là cái chết của một cô gái đẹp. Ai sẽ là người đau khổ nhất khi nghe cái tin ấy? Dĩ nhiên, đó là người yêu của nàng. Thế là ông nghĩ tới một chàng trai vừa mất người yêu, người yêu có tên là Leonore, để vần với Never more. Chàng trai khi đó đang ở đâu? Poe suy nghĩ: con quạ màu đen. Màu đen nổi bật nhất trên nền màu gì? Màu trắng. Vậy ta hãy chọn màu trắng của bức tượng, một bức tượng của ai nhỉ? Ta hãy chọn bức tượng của Pallas Athènes. Bức tượng đặt ở đâu? Trong thư viện. Edgar Poe giải thích rằng để bài thơ được thống nhất, cần phải chọn một nơi kín đáo.
Vậy là ông đặt bức tượng Minerve trong thư viện. Chàng trai ngồi một mình trong đó, giữa những quyển sách của chàng và thương khóc người yêu đã chết, so lovesick more. Sau đó con quạ bay vào. Tại sao con quạ lại bay vào? Như ta đều biết, thư viện là một nơi yên tĩnh, vậy cần phải đưa ra một cái gì đó trái ngược: Edgar Poe tưởng tượng ra một trận bão. Đêm giông bão đã ném con quạ vào thư viện.
Chàng trai hỏi tên con quạ, nó kêu lên: never more. Chàng trai đau khổ vật vã, tiếp tục hỏi nhưng nó trả lời tất cả những câu hỏi đó bằng cách lặp đi lặp lại: never more, never more, never more, không bao giờ nữa. Nhưng chàng trai vẫn hỏi, hỏi mãi. Cuối cùng chàng trai nói với con quạ điều mà ta có thể coi là ẩn dụ đầu tiên của bài thơ: Hãy tống khứ cái mỏ của mày ra khỏi trái tim tao rồi cút ra khỏi cửa. Con quạ, (đã trở thành biểu tượng của ký ức, một ký ức - đáng buồn thay - bất tử), con quạ ấy đáp: never more. Chàng trai hiểu rằng chàng đã bị kết án chung thân, rằng trong suốt quãng đời còn lại, quãng đời kỳ ảo còn lại, chàng sẽ phải chuyện trò với con quạ, con quạ chỉ biết khẳng định một điều duy nhất: không bao giờ nữa. Chàng sẽ suốt đời phải đặt cho nó những câu hỏi mà chàng đã biết trước câu trả lời. Nói cách khác, Edgar Poe muốn chúng ta tin rằng ông đã viết một bài thơ lý trí. Nhưng chỉ cần nghiên cứu chủ đề của bài thơ kỹ hơn một chút, chúng ta sẽ nhận thấy rằng điều đó là giả tạo. Edgar Poe hoàn toàn có thể thực hiện được ý tưởng sáng tác một cách duy lý của mình nếu chọn một gã dở hơi hay một người say rượu thay cho con quạ. Khi đó chúng ta sẽ có một bài thơ khác hẳn và khó giải thích hơn."
Một đêm nao lúc giữa đêm buồn thảm, tôi đương ngẫm ngợi mệt lả và rã rời Trước cuốn sách chẳng còn ai nhớ đến khá lạ kỳ và xưa cũ Tôi đương gà gật gần như thiếp đi, đột nhiên có tiếng đập vào cửa Như có ai nhẹ nhàng gõ cửa - gõ vào cửa buồng tôi “Có khách nào”, tôi khẽ nói, “đập vào cửa buồng” - Chỉ vậy thôi chẳng có gì hơn nữa À, tôi nhớ rõ, một đêm tháng chạp lạnh lẽo Mỗi thanh củi chết dần tro than, đổ hồn bóng của nó lên sàn Tôi da diết muốn trời mau sáng; - đã hoài công mượn chồng sách mong ngơi ngớt cơn sầu - nỗi sầu nàng Lenore đã mất Người trinh nữ rạng ngời hiếm có, được thiên thần gọi tên Lenore Giờ tên nàng chẳng còn trên đời nữa Và tiếng lụa xột xoạt mơ hồ buồn bã của từng tấm rèm hồng tía Làm tôi rùng mình - tràn ngập hồn tôi nỗi khiếp sợ lạ kỳ chưa cảm thấy bao giờ Để bình tâm tôi lại tự nhủ mình, “Có vị khách nào đứng ngoài cửa nài nỉ xin vào Một vị khách muộn màng nào đó, đứng ngoài cửa nài nỉ xin vào” - Thế thôi, chẳng có gì hơn nữa Lúc này tôi đã vững tâm hơn, chẳng còn e ngại nữa “Quý ông hay quý bà”, tôi bảo,” thực lòng xin thứ lỗi Quả tình tôi đương thiếp ngủ, mà quí vị lại gõ quá nhẹ nhàng Lại đập quá khẽ khàng - đập cửa buồng tôi Tôi không dám chắc là đã nghe tiếng gõ” - và đây tôi mở rộng cửa Ngoài đó đêm đen chẳng có gì hơn nữa Nhìn sâu vào đêm thẳm, tôi đứng đó thật lâu ngạc nhiên, sợ hãi Lòng nghi hoặc, mơ những giấc mơ chẳng người trần nào từ trước dám mơ Nhưng im lặng vẫn hoàn im lặng, và bóng đêm chẳng hé lộ điều gì Và chỉ một từ được thốt lên, tiếng thì thầm “Lenore!” Tiếng thì thầm của chính tôi, và lầm rầm nghe vọng lại “Lenore!” Chỉ vậy thôi chẳng còn gì hơn nữa Trở lại phòng, cả hồn tôi rực cháy Rồi tôi lại nghe một tiếng đập, nghe chừng còn mạnh hơn lần trước “Chắc là”, tôi tự nhủ, “ chắc có gì động ngoài song cửa Hẵng thử xem ngoài ấy có gì, rồi sẽ tìm ra bí ẩn này Hẵng cứ bình tâm giây lát, rồi sẽ tìm ra bí ẩn này Là gió thôi, chẳng có gì hơn nữa Tôi mở tung cánh cửa, con quạ vung vinh vỗ cánh dồn dập bước vào Một con quạ bệ vệ, trang nghiêm của những ngày thiêng xưa cũ Chẳng hề cung kính, không lúc nào dừng lại hay đứng yên Mà với bộ mặt đài các kiêu kỳ đậu vào phía trên cánh cửa buồng tôi Đậu trên tượng bán thân thần Pallas, đặt ngay phía trên cánh cửa buồng tôi Đậu chễm chệ thế thôi, chẳng có gì hơn nữa Thế rồi với bộ dạng trịnh trọng nghiêm nghị Con chim màu mun này làm tôi nguôi đi, lòng đương sầu muộn chợt thấy buồn cười “Cho dù đầu ngươi bị xén trụi lông rồi”, tôi bảo, “nom ngươi chẳng nỗi nào hèn nhát” Con quạ khủng khiếp và cổ lỗ bay lang thang thoát khỏi bờ Đêm Cho ta biết quí danh ngươi nơi bờ Đêm địa ngục Con quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” Tôi kinh ngạc xiết bao khi nghe con chim lóng ngóng vụng về này phát thành lời rõ thế Dù câu trả lời khá vô nghĩa - vu vơ Bởi tôi cũng như bạn không thể tin rằng một ai trên đời này Có diễm phúc được thấy loài chim hay thú nào trên cánh cửa phòng mình Nó đậu ngay trên pho tượng phía trên cửa phòng mình Với một cái tên: “Không bao giờ nữa” Nhưng con quạ đơn độc đậu trên pho tượng câm lặng ấy, Chỉ nói mỗi một từ, dường như nó trút cạn cả linh hồn vào đó Rồi nó chẳng thốt thêm lời nào, lặng yên không động cánh Cho đến khi tôi khẽ thì thầm: “Bạn bè đã bỏ tôi bay biến đi từ trước - Và ngày mai nó lại sẽ bỏ tôi, như bao hi vọng đã bay đi từ trước Lời quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” Giật mình trước sự yên tĩnh bị phá vỡ bởi tiếng trả lời rất đanh và rõ Tôi liền bảo: “ Chắc lời nó thốt ra là toàn bộ vốn liếng ngôn từ Lấy từ một ông chủ bất hạnh mà tai ương tàn khốc Bám riết theo cho đến khi những bài ca nước mắt Và những lời ai điếu Niềm Hi Vọng hắn than vãn u buồn trĩu nặng “Không bao giờ- không bao giờ nữa” Con quạ cứ thế làm tôi khuây khỏa, tâm hồn đương buồn bã lại muốn mỉm cười Tôi bèn lê thẳng chiếc ghế nệm tới trước con chim, trước pho tượng bán thân và cánh cửa Rồi lún ngập trong nhung đệm, tôi miên man tưởng tượng Nghĩ ngợi con chim quái gở này từ thủa xa xưa - Con chim ác nghiệt, thô vụng, rùng rợn buồn thảm và quái gở từ thủa xa xưa Muốn nói gì khi kêu lên “Không bao giờ nữa” Đến lúc này, tôi đành ngồi ngẫm đoán, không nói một lời với con chim kiêu bạc Mà đôi mắt rực lửa thiêu đốt tận tâm can Đến lúc này, ngồi dần dà đoán thêm, đầu nhẹ nhàng ngả trên nhung tím Nơi ánh đèn hau háu trùm lên Nhưng chiếc gối bọc nhung tím ánh sáng đèn hau háu trùm lên Nàng sẽ chẳng ôm ghì được nữa - không bao giờ nữa Rồi tôi cảm thấy khí trời đậm đặc hơn, đượm mùi thơm từ một lư hương vô hình Đung đưa trên tay thiên thần mà tiếng chân buông khẽ vang trên thảm “Thân làm tội đời”, tôi gào lên,” Chúa đã ban cho ngươi và qua những thiên thần này đã gửi tới cho ngươi niềm khuây khỏa - niềm khuây khoả và rượu giải sầu để lãng quên Lenore.” Hãy uống, hãy uống đi chút rượu giải sầu này và quên đi nàng Lenore đã mất Con quạ kêu: “Không bao giờ nữa” “Kẻ báo điềm kia!” - Tôi bảo. - “ Đồ tai ác kia! Ngươi lặng thinh là chim hay là quỷ”.
Quỷ cám dỗ phái ngươi đến, hay bão táp quăng ngươi dạt vào bến bờ này Vừa cô độc lại vừa nghênh ngang khinh bạc, trên mảnh đất thần diệu hoang vu này Trong ngôi nhà ám ảnh rùng rợn ấy - ta van ngươi hãy nói thật ta nghe. Có chăng, liệu có chăng nhựa hương vùng Gilead?
Con quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” “Kẻ báo điềm kia!” - Tôi bảo. - “Đồ tai ác kia! - Ngươi lặng thinh. Là chim hay là quỷ”.
Có trời cao nhìn xuống chúng ta, có chúa mà hai ta tôn thờ Xin hãy bảo cho tâm hồn đang trĩu nặng buồn thương, xem trên cõi thiên đường xa xôi Nó có còn được siết vào lòng người trinh nữ thánh thiện được các thiên thần gọi tên Lenore Siết chặt người trinh nữ rạng ngời, hiếm có được các thiên thần gọi tên Lenore Con quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” “Là chim hay là quỷ, lời ngươi kia là dấu hiệu của chia lìa”. - Tôi đứng phắt dậy gào lên Hãy quay về với dông bão và bờ Đêm địa ngục Đừng bỏ lại một chiếc lông đen nào làm bằng cho lời dối trá mà hồn ngươi vừa phun ra Cút khỏi pho tượng trên cánh cửa buồng ta Hãy rút mỏ ra khỏi tim ta và mang hình hài ngươi biến sau khung cửa Con quạ đáp lời: “Không bao giờ nữa” Và con quạ không hề động cánh, vẫn im lìm, tọa im lìm Trên bức tượng xanh xao, tượng Pallas bán thân bên trên cánh cửa Và mắt ấy, mắt quỷ đương mơ ngủ, Và ánh đèn trên cao đổ bóng Và hồn tôi khi nào thoát khỏi Bóng quạ đen dập dềnh trên sàn Không thể nào bay lên - không bao giờ nữa!
Đầu tiên, ông nhận thấy vai trò quan trọng của điệp khúc, sau đó ông nghĩ đến ngữ âm của tiếng Anh. Ông khẳng định rằng hai âm dễ ngân vang và có hiệu quả nhất của tiếng Anh là “o” và “r”. Thế là ngay lập tức ông tìm ra cụm từ never more, "không bao giờ nữa".
Khởi đầu chỉ có vậy. Sau đó xuất hiện một vấn đề: phải làm sao để hợp lý hóa việc nhắc đi nhắc lại hai từ này, bởi vì nói chung nếu để một người làm việc đó thì không được tự nhiên lắm. Ông tự nhủ không được quá lý trí, và điều đó dẫn ông tới ý tưởng về một con chim biết nói. Ông đã nghĩ tới vẹt, nhưng loài chim này không có được những phẩm chất mà thơ ca đòi hỏi. Thế là ông chọn một con quạ. Nói một cách trung thực, khi đó ông đang đọc cuốn tiểu thuyết của Charles Dickens, Barnaby Rudge, trong đó có chuyện một con quạ. Thế là ông có một con quạ tên là Never more và nó không ngừng nhắc lại tên mình. Đó là tất cả những gì Edgar Poe có lúc ban đầu.
Sau đó ông tự nhủ: sự kiện nào đáng buồn nhất, đau khổ nhất? Chắc chắn đó là cái chết của một cô gái đẹp. Ai sẽ là người đau khổ nhất khi nghe cái tin ấy? Dĩ nhiên, đó là người yêu của nàng. Thế là ông nghĩ tới một chàng trai vừa mất người yêu, người yêu có tên là Leonore, để vần với Never more. Chàng trai khi đó đang ở đâu? Poe suy nghĩ: con quạ màu đen. Màu đen nổi bật nhất trên nền màu gì? Màu trắng. Vậy ta hãy chọn màu trắng của bức tượng, một bức tượng của ai nhỉ? Ta hãy chọn bức tượng của Pallas Athènes. Bức tượng đặt ở đâu? Trong thư viện. Edgar Poe giải thích rằng để bài thơ được thống nhất, cần phải chọn một nơi kín đáo.
Vậy là ông đặt bức tượng Minerve trong thư viện. Chàng trai ngồi một mình trong đó, giữa những quyển sách của chàng và thương khóc người yêu đã chết, so lovesick more. Sau đó con quạ bay vào. Tại sao con quạ lại bay vào? Như ta đều biết, thư viện là một nơi yên tĩnh, vậy cần phải đưa ra một cái gì đó trái ngược: Edgar Poe tưởng tượng ra một trận bão. Đêm giông bão đã ném con quạ vào thư viện.
Chàng trai hỏi tên con quạ, nó kêu lên: never more. Chàng trai đau khổ vật vã, tiếp tục hỏi nhưng nó trả lời tất cả những câu hỏi đó bằng cách lặp đi lặp lại: never more, never more, never more, không bao giờ nữa. Nhưng chàng trai vẫn hỏi, hỏi mãi. Cuối cùng chàng trai nói với con quạ điều mà ta có thể coi là ẩn dụ đầu tiên của bài thơ: Hãy tống khứ cái mỏ của mày ra khỏi trái tim tao rồi cút ra khỏi cửa. Con quạ, (đã trở thành biểu tượng của ký ức, một ký ức - đáng buồn thay - bất tử), con quạ ấy đáp: never more. Chàng trai hiểu rằng chàng đã bị kết án chung thân, rằng trong suốt quãng đời còn lại, quãng đời kỳ ảo còn lại, chàng sẽ phải chuyện trò với con quạ, con quạ chỉ biết khẳng định một điều duy nhất: không bao giờ nữa. Chàng sẽ suốt đời phải đặt cho nó những câu hỏi mà chàng đã biết trước câu trả lời. Nói cách khác, Edgar Poe muốn chúng ta tin rằng ông đã viết một bài thơ lý trí. Nhưng chỉ cần nghiên cứu chủ đề của bài thơ kỹ hơn một chút, chúng ta sẽ nhận thấy rằng điều đó là giả tạo. Edgar Poe hoàn toàn có thể thực hiện được ý tưởng sáng tác một cách duy lý của mình nếu chọn một gã dở hơi hay một người say rượu thay cho con quạ. Khi đó chúng ta sẽ có một bài thơ khác hẳn và khó giải thích hơn."
Một đêm nao lúc giữa đêm buồn thảm, tôi đương ngẫm ngợi mệt lả và rã rời Trước cuốn sách chẳng còn ai nhớ đến khá lạ kỳ và xưa cũ Tôi đương gà gật gần như thiếp đi, đột nhiên có tiếng đập vào cửa Như có ai nhẹ nhàng gõ cửa - gõ vào cửa buồng tôi “Có khách nào”, tôi khẽ nói, “đập vào cửa buồng” - Chỉ vậy thôi chẳng có gì hơn nữa À, tôi nhớ rõ, một đêm tháng chạp lạnh lẽo Mỗi thanh củi chết dần tro than, đổ hồn bóng của nó lên sàn Tôi da diết muốn trời mau sáng; - đã hoài công mượn chồng sách mong ngơi ngớt cơn sầu - nỗi sầu nàng Lenore đã mất Người trinh nữ rạng ngời hiếm có, được thiên thần gọi tên Lenore Giờ tên nàng chẳng còn trên đời nữa Và tiếng lụa xột xoạt mơ hồ buồn bã của từng tấm rèm hồng tía Làm tôi rùng mình - tràn ngập hồn tôi nỗi khiếp sợ lạ kỳ chưa cảm thấy bao giờ Để bình tâm tôi lại tự nhủ mình, “Có vị khách nào đứng ngoài cửa nài nỉ xin vào Một vị khách muộn màng nào đó, đứng ngoài cửa nài nỉ xin vào” - Thế thôi, chẳng có gì hơn nữa Lúc này tôi đã vững tâm hơn, chẳng còn e ngại nữa “Quý ông hay quý bà”, tôi bảo,” thực lòng xin thứ lỗi Quả tình tôi đương thiếp ngủ, mà quí vị lại gõ quá nhẹ nhàng Lại đập quá khẽ khàng - đập cửa buồng tôi Tôi không dám chắc là đã nghe tiếng gõ” - và đây tôi mở rộng cửa Ngoài đó đêm đen chẳng có gì hơn nữa Nhìn sâu vào đêm thẳm, tôi đứng đó thật lâu ngạc nhiên, sợ hãi Lòng nghi hoặc, mơ những giấc mơ chẳng người trần nào từ trước dám mơ Nhưng im lặng vẫn hoàn im lặng, và bóng đêm chẳng hé lộ điều gì Và chỉ một từ được thốt lên, tiếng thì thầm “Lenore!” Tiếng thì thầm của chính tôi, và lầm rầm nghe vọng lại “Lenore!” Chỉ vậy thôi chẳng còn gì hơn nữa Trở lại phòng, cả hồn tôi rực cháy Rồi tôi lại nghe một tiếng đập, nghe chừng còn mạnh hơn lần trước “Chắc là”, tôi tự nhủ, “ chắc có gì động ngoài song cửa Hẵng thử xem ngoài ấy có gì, rồi sẽ tìm ra bí ẩn này Hẵng cứ bình tâm giây lát, rồi sẽ tìm ra bí ẩn này Là gió thôi, chẳng có gì hơn nữa Tôi mở tung cánh cửa, con quạ vung vinh vỗ cánh dồn dập bước vào Một con quạ bệ vệ, trang nghiêm của những ngày thiêng xưa cũ Chẳng hề cung kính, không lúc nào dừng lại hay đứng yên Mà với bộ mặt đài các kiêu kỳ đậu vào phía trên cánh cửa buồng tôi Đậu trên tượng bán thân thần Pallas, đặt ngay phía trên cánh cửa buồng tôi Đậu chễm chệ thế thôi, chẳng có gì hơn nữa Thế rồi với bộ dạng trịnh trọng nghiêm nghị Con chim màu mun này làm tôi nguôi đi, lòng đương sầu muộn chợt thấy buồn cười “Cho dù đầu ngươi bị xén trụi lông rồi”, tôi bảo, “nom ngươi chẳng nỗi nào hèn nhát” Con quạ khủng khiếp và cổ lỗ bay lang thang thoát khỏi bờ Đêm Cho ta biết quí danh ngươi nơi bờ Đêm địa ngục Con quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” Tôi kinh ngạc xiết bao khi nghe con chim lóng ngóng vụng về này phát thành lời rõ thế Dù câu trả lời khá vô nghĩa - vu vơ Bởi tôi cũng như bạn không thể tin rằng một ai trên đời này Có diễm phúc được thấy loài chim hay thú nào trên cánh cửa phòng mình Nó đậu ngay trên pho tượng phía trên cửa phòng mình Với một cái tên: “Không bao giờ nữa” Nhưng con quạ đơn độc đậu trên pho tượng câm lặng ấy, Chỉ nói mỗi một từ, dường như nó trút cạn cả linh hồn vào đó Rồi nó chẳng thốt thêm lời nào, lặng yên không động cánh Cho đến khi tôi khẽ thì thầm: “Bạn bè đã bỏ tôi bay biến đi từ trước - Và ngày mai nó lại sẽ bỏ tôi, như bao hi vọng đã bay đi từ trước Lời quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” Giật mình trước sự yên tĩnh bị phá vỡ bởi tiếng trả lời rất đanh và rõ Tôi liền bảo: “ Chắc lời nó thốt ra là toàn bộ vốn liếng ngôn từ Lấy từ một ông chủ bất hạnh mà tai ương tàn khốc Bám riết theo cho đến khi những bài ca nước mắt Và những lời ai điếu Niềm Hi Vọng hắn than vãn u buồn trĩu nặng “Không bao giờ- không bao giờ nữa” Con quạ cứ thế làm tôi khuây khỏa, tâm hồn đương buồn bã lại muốn mỉm cười Tôi bèn lê thẳng chiếc ghế nệm tới trước con chim, trước pho tượng bán thân và cánh cửa Rồi lún ngập trong nhung đệm, tôi miên man tưởng tượng Nghĩ ngợi con chim quái gở này từ thủa xa xưa - Con chim ác nghiệt, thô vụng, rùng rợn buồn thảm và quái gở từ thủa xa xưa Muốn nói gì khi kêu lên “Không bao giờ nữa” Đến lúc này, tôi đành ngồi ngẫm đoán, không nói một lời với con chim kiêu bạc Mà đôi mắt rực lửa thiêu đốt tận tâm can Đến lúc này, ngồi dần dà đoán thêm, đầu nhẹ nhàng ngả trên nhung tím Nơi ánh đèn hau háu trùm lên Nhưng chiếc gối bọc nhung tím ánh sáng đèn hau háu trùm lên Nàng sẽ chẳng ôm ghì được nữa - không bao giờ nữa Rồi tôi cảm thấy khí trời đậm đặc hơn, đượm mùi thơm từ một lư hương vô hình Đung đưa trên tay thiên thần mà tiếng chân buông khẽ vang trên thảm “Thân làm tội đời”, tôi gào lên,” Chúa đã ban cho ngươi và qua những thiên thần này đã gửi tới cho ngươi niềm khuây khỏa - niềm khuây khoả và rượu giải sầu để lãng quên Lenore.” Hãy uống, hãy uống đi chút rượu giải sầu này và quên đi nàng Lenore đã mất Con quạ kêu: “Không bao giờ nữa” “Kẻ báo điềm kia!” - Tôi bảo. - “ Đồ tai ác kia! Ngươi lặng thinh là chim hay là quỷ”.
Quỷ cám dỗ phái ngươi đến, hay bão táp quăng ngươi dạt vào bến bờ này Vừa cô độc lại vừa nghênh ngang khinh bạc, trên mảnh đất thần diệu hoang vu này Trong ngôi nhà ám ảnh rùng rợn ấy - ta van ngươi hãy nói thật ta nghe. Có chăng, liệu có chăng nhựa hương vùng Gilead?
Con quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” “Kẻ báo điềm kia!” - Tôi bảo. - “Đồ tai ác kia! - Ngươi lặng thinh. Là chim hay là quỷ”.
Có trời cao nhìn xuống chúng ta, có chúa mà hai ta tôn thờ Xin hãy bảo cho tâm hồn đang trĩu nặng buồn thương, xem trên cõi thiên đường xa xôi Nó có còn được siết vào lòng người trinh nữ thánh thiện được các thiên thần gọi tên Lenore Siết chặt người trinh nữ rạng ngời, hiếm có được các thiên thần gọi tên Lenore Con quạ kêu lên: “Không bao giờ nữa” “Là chim hay là quỷ, lời ngươi kia là dấu hiệu của chia lìa”. - Tôi đứng phắt dậy gào lên Hãy quay về với dông bão và bờ Đêm địa ngục Đừng bỏ lại một chiếc lông đen nào làm bằng cho lời dối trá mà hồn ngươi vừa phun ra Cút khỏi pho tượng trên cánh cửa buồng ta Hãy rút mỏ ra khỏi tim ta và mang hình hài ngươi biến sau khung cửa Con quạ đáp lời: “Không bao giờ nữa” Và con quạ không hề động cánh, vẫn im lìm, tọa im lìm Trên bức tượng xanh xao, tượng Pallas bán thân bên trên cánh cửa Và mắt ấy, mắt quỷ đương mơ ngủ, Và ánh đèn trên cao đổ bóng Và hồn tôi khi nào thoát khỏi Bóng quạ đen dập dềnh trên sàn Không thể nào bay lên - không bao giờ nữa!
Edgar Allan Poe
Hoàng Tố Mai dịch
(sưu tầm)
Hoàng Tố Mai dịch
(sưu tầm)
Mặt Trăng và Mặt Trời
Ngày xửa ngày xưa khi đất trời vẫn còn chưa phân rõ ranh giới. Có một đôi tình nhân yêu nhau say đắm. Người con gái tên là mặt trăng và người con trai tên là mặt trời. Một hôm mặt trời nói với mặt trăng: " Em à , chúng ta cứ ở bên nhau mãi thế này có vẻ như không ổn lắm. Chúng ta thử xa nhau một lần xem sao. Hôm nay anh sẽ đi sang dãy núi bên kia. Anh hứa với em rằng tối nay anh lại về."
Thế rồi mặt trời ra đi. Mặt trăng ở nhà chờ đợi. Một ngày đối với mặt trăng như quá dài rỗi phút chốc nàng không còn kiên nhẫn được nữa. Nàng quyết đinh ra khỏi nhà đi tìm lấy mặt trời. Nhưng khi nàng vừa ra khỏi nhà thì cũng là lúc mặt trời trở về. Không thấy người mình yêu ở nhà mặt trời lo lắng hơn bao giờ hết. Chàng biết làm gì đây? Mặt trời đành ở nhà đợi người yêu của mình trở về. Và hình như cũng như Mặt Trăng chàng cũng không đủ kiên nhẫn để đợi. Chàng nghĩ rằng có thể Mặt Trăng đã đi sang dãy núi bên kia để tìm chàng. Thế rồi chàng cất bước ra đi. Lúc chàng đi cũng chính là lúc Mặt Trăng xinh đẹp về tới nhà.... và cứ như vậy Mặt Trăng và Mặt Trời vẫn đi tìm nhau từ ngày này sang ngày khác và có lẽ họ sẽ chẳng bao giờ tìm được nhau nữa.
Tình yêu là vậy đấy , nhiều lúc tình yêu rất cần có những khoảng cách. Nhưng hơn hết tình yêu cần sự kiên nhẫn. Cuộc sống không đơn giản chỉ có tình yêu , cuộc sống còn có nhiều khó khăn thử thách. Hãy tin tưởng vào người bạn yêu thương và cùng nhau vượt qua những khó khăn thử thách đó. Khi đó bạn mới biết thế nào là tình yêu thực sự.
Thế rồi mặt trời ra đi. Mặt trăng ở nhà chờ đợi. Một ngày đối với mặt trăng như quá dài rỗi phút chốc nàng không còn kiên nhẫn được nữa. Nàng quyết đinh ra khỏi nhà đi tìm lấy mặt trời. Nhưng khi nàng vừa ra khỏi nhà thì cũng là lúc mặt trời trở về. Không thấy người mình yêu ở nhà mặt trời lo lắng hơn bao giờ hết. Chàng biết làm gì đây? Mặt trời đành ở nhà đợi người yêu của mình trở về. Và hình như cũng như Mặt Trăng chàng cũng không đủ kiên nhẫn để đợi. Chàng nghĩ rằng có thể Mặt Trăng đã đi sang dãy núi bên kia để tìm chàng. Thế rồi chàng cất bước ra đi. Lúc chàng đi cũng chính là lúc Mặt Trăng xinh đẹp về tới nhà.... và cứ như vậy Mặt Trăng và Mặt Trời vẫn đi tìm nhau từ ngày này sang ngày khác và có lẽ họ sẽ chẳng bao giờ tìm được nhau nữa.
Tình yêu là vậy đấy , nhiều lúc tình yêu rất cần có những khoảng cách. Nhưng hơn hết tình yêu cần sự kiên nhẫn. Cuộc sống không đơn giản chỉ có tình yêu , cuộc sống còn có nhiều khó khăn thử thách. Hãy tin tưởng vào người bạn yêu thương và cùng nhau vượt qua những khó khăn thử thách đó. Khi đó bạn mới biết thế nào là tình yêu thực sự.
(sưu tầm)
Con ma trong hồ tắm
Chúng tôi quen nhau khi còn học chung ở một trường đại học tại tiểu bang Massachusetts! Sau khi ra trường tuy làm việc ở khác thành phố nhưng chúng tôi vẫn liên lạc và đi lại với nhau! Ba năm sau chúng tôi làm lễ cưới, rồi tính đến chuyện mua một căn nhà để ở!
Sau một tháng tìm kiếm, chúng tôi đã tìm được một căn nhà vừa ý, giá lại rẻ ! Đó là một căn nhà Cape, có rào chung quanh, ba phòng ngủ, hai phòng tắm, finished basement, và đặc biệt là có một hồ tắm chìm (underground swimming pool) rất rộng! Tôi thích cái hồ tắm lắm vì đã chán ngấy cái cảnh chen chúc ở các bờ hồ, bờ biển vào mỗi mùa Hè! Nay vợ chồng tôi có thể thoải mái ngâm mình trong nước mát lạnh mà không phải đi đâu xa nữa!
Chúng tôi mua nhà vào mùa Đông nên cái hồ vẫn được che phủ bằng tấm bạt! Tôi ước mong cho mùa Hè chóng tới để tha hồ bơi lội trong đó! Rồi thì mùa Hè cũng tới, chồng tôi gở tấm bạt phủ và cọ rửa đáy hồ trước khi xả nước vào! Anh ấy làm theo lời chỉ dẫn của một người bạn Mỹ để chúng tôi không còn phải lo lắng gì khi tắm! Số là tôi sinh trưởng ở một tỉnh miền Tây tại VN nên bơi lội là nghề của tôi từ hồi còn bé! Chồng tôi sinh quán tại Nha Trang nên bơi lội với anh chỉ là trò đùa!
Trưa thứ Bảy đầu tiên sau khi hoàn tất việc sửa soạn cho hồ, tôi thích thú nhảy ngay xuống và bơi thoải mái qua lại từ đầu hồ tới cuối hồ! Bơi được chừng 15 phút, tôi nhoài lại gần cái thang và giữ lấy nó cho đỡ mệt! Bổng tôi có cái cảm giác là có một bàn nào đó nắm lấy cổ chân tôi! Nhìn qua làn nước trong suốt tận đáy hồ, tôi không thấy ai cả! Nhưng chân tôi vẫn như bị ai nắm lấy! Tuy chồng tôi nằm đọc báo trên ghế ở cái deck ngay bờ hồ, tôi không gọi anh ấy vì sợ cho là nhát nhúa! Nhưng tôi cũng không giám ngâm mình lâu hơn! Tay đang nắm cái thang nhôm lên xuống hồ, tôi leo vội lên ngồi cạnh chồng! Một lúc sau anh ấy nhảy xuống bơi, tôi đợi xem có sự gì lạ xảy ra cho anh ấy không! Chẳng có gì cả ! Chồng tôi ngoắc tôi xuống, tôi ngần ngừ một lúc rồi nhảy xuống cạnh chồng! Tôi cẩn thận chỉ bơi theo chồng mà chẳng giám rời xa vì cái cảm giác lúc nãy vẫn còn ám ảnh tôi! Mọi việc tốt đẹp, tôi không thấy có cảm giác bị nắm chân nữa! Chắc là do tôi tưởng tượng ra thôi!
Hôm sau chúng tôi lại xuống tắm, vừa nhảy xuống bơi được một vòng thì cái cảm giác bị nắm chân lại đến với tôi! Lạ một điều là cái bàn tay vô hình đó chỉ nắm lấy chân tôi chứ không kéo ghị gì cả nên tôi vẫn bơi lội thoải mái! Chỉ thấy như chân mình bị nắm thôi! Tôi cố đập chân thật mạnh để xem cái cảm giác đó có biến đi không! Không, nó như bám chặt lấy chân tôi! Đâm sợ tôi bơi vào bờ và leo lên ngồi cạnh chồng trên deck! Một lúc sau tôi làm như vô tình hỏi:
_ Anh có cảm thấy bị vướng víu gì trong khi bơi không hả?
_ Đâu có gì đâu em! Rất thoải mái, nước trong mát anh rất thích! Mình cùng bơi nghe em!
Rồi anh ấy nhảy xuống bơi mấy vòng và ra hiệu cho tôi nhảy xuống hồ! Bất đắc dĩ tôi phải làm theo! Lạ thay tôi không có cái cảm giác bị nắm như khi tôi bơi một mình trong hồ! Tôi suy ra có lẽ do tôi sợ vẫn vơ vì hồi bé hay nghe kể chuyện "ma da" mà ra thôi! Mà ma da thì ở sông, ở hồ chứ đâu có khi nào tôi nghe nói là có nó trong hồ tắm đâu! Đúng là tôi sợ vẩn vơ rồi! Tuy tự nhủ như vậy, nhưng sau này mỗi khi ra tắm là tôi đợi chồng tôi nhảy xuống rồi mới nhảy theo! Mọi việc êm đẹp và tôi cứ theo đó mà theo để khỏi bị cái cảm giác kia làm sợ hãi và khó chịu!
Gần cuối mùa Hè năm đó là sinh nhật thứ 26 của tôi! Vợ chồng tôi tổ chức tiệc sinh nhật tại nhà và mời anh em, họ hàng, cùng bạn bè đến dự! Chồng tôi không uống rượu, chỉ khi nào đi dự tiệc tùng thì anh ấy mới uống một lon bia cho vui thôi! Còn tôi thì chỉ cần một ngụm rượu cũng đủ làm cho say rồi! Nhưng vì là tiệc sinh nhật của tôi, nên họ bắt tôi uống mấy ly rượu nhỏ, và để tiệc được vui tôi không thể từ chối được! Xong tiệc, mọi người xúm nhau nói chuyện một lúc rồi từ giả ra về! Vợ chồng tôi dọn dẹp và bỏ chén dĩa vào máy rửa! Thấy mặt tôi đỏ bừng vì rượu chồng tôi bảo là hãy nằm trên sofa nghĩ cho tỉnh rượu đi! Anh ấy xuống basement dọn dẹp dưới đó một chút vì mấy đứa nhỏ con của bạn bè, họ hàng xuống chơi bày bừa bộn dưới đó!
Đang nằm thiu thiu bổng có một ma lực nào đó bảo tôi đứng dậy và đi ra hồ tắm! Tôi nghe theo như một kẻ mất hồn! Chân tôi bước ra hồ rồi tự nhảy xuống đó! Cái cảm giác bị ai nắm chân lại đến với tôi! Lần này cả hai chân tôi bị nắm và tệ hại hơn là chúng kéo tôi xuống đáy hồ! Tôi vùng vẫy mà không sao thoát được hai bàn tay đó! Mở miệng ra thì bị nước vào, tôi uống mất mấy ngụm vào bụng! Nhưng khi tới đáy hồ thì bản tính tự mhiên tìm cái sống thúc đẩy làm tôi trở lên mạnh mẻ! Tôi đạp thật mạnh để trồi lên mặt nước, vừa cố ngáp thở được hai hơi, đôi tay đó đã kéo ngược tôi xuống đáy trở lại! Không, tôi không thể chết như thế này được! Tôi mới có 26 cái xuân xanh, tôi còn quá trẻ để mà chết! Bản năng sinh tồn cho tôi sức mạnh và tôi vùng lên mặt nước một lần nữa! Đôi bàn tay đó chẳng để cho tôi thở lâu lấy sức, chúng kéo mạnh tôi trở xuống đáy hồ! Tôi cố mở miệng kêu cứu nhưng nước tràn vào miệng làm tôi sặc sụa! Bụng tôi đã chứa khá nhiều nước rồi! Tôi cảm nhận được điều đó! Trong cơn nguy ngập, tôi nghĩ đến chồng, đến cha mẹ, đến anh chị em tôi! Không! Không, tôi chưa muốn chết! Chúng tôi mới cưới nhau được một năm thôi! Tôi mới chỉ hưởng được cái hạnh phúc vợ chồng này chưa đầy một năm, tôi chưa sinh cho chồng tôi một đứa con trai và một cô con gái như chúng tôi đã ước mong mà! Tôi chưa trả được tí gì cho công ơn dưỡng dục của cha mẹ tôi! Tôi không thể chết được! Nhưng ai cứu được tôi bây giờ! Trong cái giờ phút cuối cùng này, tôi cố nhoài người lên một lần cuối! Tôi vẫn cảm nhận là đôi bàn tay kia đang kéo tôi trở xuống, trước lúc ngất đi tôi cảm thấy có đôi tay quàng qua người mình! Tôi chỉ còn một thoáng nghĩ trước lúc hôn mê là đôi tay kia tới mang tôi về cỏi chết!
Khi tôi tỉnh dậy thấy mình trong bệnh viện, bên giường là gương mặt lo lắng của chồng và bố mẹ tôi! Tôi mừng rở mặt dàn dụa nước mắt! Tôi không biết tại sao mình còn sống và ở trong đây! Ai đã cứu tôi khỏi đôi bàn tay quái quỷ đó! Đợi tôi định tỉnh một hồi, chồng tôi mới nhỏ nhẹ nói:
_ Anh vừa ở basement lên, không thấy em đâu cả! Anh gọi nhưng không ai trả lời, vào phòng ngủ cũng không thấy em! Anh chạy ra sau thì thấy tay em thò vẫy vùng trên mặt nước và đang chìm dần! Anh hoảng quá nhảy xuống vớt em lên rồi kêu 911 ! Họ đến làm hô hấp nhân tạo và chở em vào đây! Cũng may em chưa chìm lâu nên không nguy đến tính mạng!
Tôi còn mệt nên chẳng nói gì hết! Hôm sau, họ cho tôi xuất viện! Về nhà tôi mới kể cho chồng nghe về việc tôi đã trải qua! Tôi giám chắc là trong hồ tắm có "ma da" vì nó đã cầm chân tôi từ ngày đầu tiên rồi! Việc này không phải do tôi tưởng tượng ra đâu! Chồng tôi bán tín bán nghi vì anh ấy là người sùng đạo lắm và không tin có ma quỷ hiện hình trên thế gian này! Nhưng thấy tôi quá khẳng định nên anh ấy chiều lòng và cùng tôi ghé qua nhà hàng xóm hỏi thăm! Ông bà hàng xóm là một cặp vợ chồng Mỹ già, họ không có con cái! Thấy chồng tôi hỏi thăm về cái hồ tắm phía sau nhà, bà già tái mặt không giám hở lời! Ông già mời vợ chồng tôi vào nhà chơi rồi thủng thẳng nói:
_ Thấy cô còn sống chúng tôi mừng cho cô lắm!! Ba người đàn bà trước kia ở căn nhà đó không được may như cô đâu!! Mà tôi nghe nói phụ nữ Á Đông các cô ít ai uống rượu lắm, phải không? Sao mà cô lại bị chìm trong hồ kìa! Tôi thấy hơi lạ đó!
_ Đúng đó bác ạ! Chúng tôi không uống rượu, nhưng hôm đó là sinh nhật của cháu nên bạn bè ép uống một hai ly nhỏ, nhưng vì không quen nên cháu bị say đó!
_ Thảo nào! Con ma trong hồ tắm đó chỉ kéo phụ nữ say rượu thôi!
_ Sao lại có chuyện đó hả bác? Bác nói là con ma trong hồ tắm! Vậy ra hồ nhà cháu có ma thật sao?
_ Vâng cô ạ! Nhiều người không tin, nhưng tôi ở đây đã 15 năm rồi, và đã chứng kiến cái chết của ba phụ nữ tại hồ nhà cô rồi đó! Bộ các cháu không hay biết gì về lịch sử của cái nhà đó sao?!?!
_ Tụi cháu lần đầu mua nhà nên có biết gì đâu ! Ông realtor có nói gì về điều này đâu ! Thấy nhà rẻ lại ở địa điểm tốt nên tụi cháu mua ngay thôi!
_ Thôi để tôi kể cho cô chú nghe về chuyện này: "Nạn nhân đầu tiên là vợ của người chủ đầu của căn nhà đó, một hôm chồng đi vắng bà ta uống rượu quá độ rồi lạng quạng sao đó mà té xuống hồ chết! Chiều tối khi chồng về khám phá ra vợ mình chìm dưới hồ, liền kêu cảnh sát, nhưng bà ta đã chết lâu rồi! Bác sĩ giảo nghiệm và quy cái chết của bà ta là do tai nạn - Say rượu rồi té xuống hồ chết đuối - Ông ta buồn lắm và bán nhà đi nơi khác để quên đi nỗi đau mất vợ! Gia đình thứ hai mua căn nhà này được chừng 1 năm, một ngày kia khi người chồng đi làm về không thấy vợ đâu, chạy ra sau tìm, và thấy vợ bị chết chìm trong hồ! Ông ta kêu 911 và họ cũng không cứu được bà ta! Bác sĩ giảo nghiệm đưa đến cùng một kết quả như cái chết của người đầu tiên! Do tai nạn vì say rượu!! Ông chồng ở thêm một thời gian rồi cũng bán căn nhà cho người khác! Vợ chồng chủ mới này đã trung niên, và có 2 người gái con tuổi choai choai đang học trung học! Họ sống yên ổn được chừng hai năm thì sự việc lại xảy ra! Đứa con gái lớn bị bồ ruồng rẩy, một bữa kia cô ta một mình ở nhà lấy rượu uống giải sầu! Khi cha mẹ cô ta về nhà đã thấy cô ấy chết dưới đáy hồ rồi! Bác sĩ và cảnh sát đưa ra kết luận như những lần trước ! Họ làm việc theo khoa học và không tin vào thế giới vô hình nên các giả thuyết khác về sự trùng hợp của ba cái chết này đều bị họ gạt đi! Nhưng vợ chồng tôi thì tin là có cái gì đó đằng sau ba cái chết này! Chúng tôi đoán là cái hồ tắm đó có quỷ, và nó chỉ lựa phụ nữ say rượu để kéo xuống đáy hồ thôi! Hôm thấy xe cứu thương tới nhà anh chị, vợ chồng tôi đã bảo nhau là lại thêm một nạn nhân nữa của cái hồ quái quỷ kia! May mắn là cô không chết! Cô có thấy điều gì khác lạ không?
_ Dạ, mỗi lần cháu xuống hồ tắm một mình, cháu đều cảm thấy một bàn tay vô hình nắm lấy chân cháu! Nhưng nó chỉ nắm thôi chứ không làm gì khác! Đến hôm cháu bị say rượu thì như có ai xúi bẩy cháu nhảy xuống hồ, và lần này nó kéo cháu bằng cả hai tay xuống đáy hồ! May mà chồng cháu thấy kịp, không thì cháu đã cùng chung số mạng với ba người kia rồi!
_ Chúng tôi chúc mừng cô đã thoát nạn, từ giờ về sau phải cẩn thận nhé!
Chúng tôi từ giả họ ra về! Câu chuyện này làm tôi sợ lắm nên tôi thuyết phục chồng tôi bán nhà đi nơi khác ở ! Anh ấy ngần ngừ nhưng sau vài lần cố gắng tôi cũng làm anh ấy xiêu lòng! Chúng tôi gọi realtor để họ bán giùm nhà! Trong khi chờ đợi bán nhà, chúng tôi không giám bén mảng ra hồ tắm nữa! Vì còn là mùa Hè nên chúng tôi thường mở cửa sổ vào ban đêm cho mát! Chồng tôi lên giường một lúc là ngủ say như chết! Còn tôi từ hôm nghe chuyện về cái hồ thường trằn trọc, khó ngủ, và bị ám ảnh bởi con ma dưới đó! Cứ gần nửa đêm là tôi lại nghe tiếng đập nước ầm ầm như có người vẫy vùng trong hồ! Tôi nghe nhưng vì sợ nên cố nằm yên không giám động đậy! Có đêm tôi liều đánh thức chồng dậy để anh ấy nghe tiếng động, nhưng ngay lúc đó tiếng vùng vẫy bổng im bặt làm tôi bị chồng rầy vì tội phá giấc ngủ !! Để kiểm xem điều mình nghe có đúng không, một sáng tôi mở cái slide door nhìn ra deck, điều tôi nghe không phải do tưởng tượng! Nước còn đọng vũng trên deck dù trời không mưa cả tuần rồi, và không ai trong chúng tôi tắm ở đó cả ! Tôi kéo chồng ra xem mấy vũng nước để minh chứng là những tiếng động tôi nghe là đúng! Chồng tôi không nói gì nhưng anh ấy hành động ngay, bằng cách xả hết nước trong hồ ra rồi phủ nó lại bằng tấm bạt dùng để phủ trong mùa Đông! Tôi yên tâm là sẽ không còn nghe tiếng vẫy vùng trong đêm nữa!
Nhưng tôi đã lầm! Khuya đó thay vì nghe tiếng đập nước thì tôi lại nghe tiếng đàn bà rên rỉ, khóc tỉ tê từ sau hồ vọng về! Tiếng khóc, tiếng rên nghe rợn cả người! Tôi cố bịt tai lại nhưng tiếng vọng ai oán này vẫn lọt vào tai! Tôi chịu không nổi nhưng không giám tự mình ra đóng mấy cái cửa sổ lại!! Tôi đành phải đánh thức chồng và nhờ anh ấy ra đóng giùm mấy cửa sổ ! Tiếng rên không vọng vào nữa! Tư đó hằng đêm tôi luôn nhớ đóng tất cả các cửa sổ trước khi đi ngủ !
Rồi nhà tôi cũng bán được, tuy là bị lỗ hết cả 10%! Không sao! Miễn bán được là tốt rồi! Tạm thời chúng tôi thuê tạm một town house để ở! Cả hai chúng tôi đều có việc làm tốt nên việc mua nhà mới sẽ không có gì khó cả, nhưng lần này chúng tôi phải điều tra kỹ về cái mà mình sẽ mua, và dù rất thích bơi lội tôi nói với chồng là không mua nhà có hồ tắm nữa! Một lần cũng đủ làm tôi tởn tới già rồi! Một hôm khoảng ba tháng sau, khi đi sắm đồ trong Mall, chúng tôi tình cờ gặp vợ chồng người mới mua căn nhà đó! Sau khi bắt tay chào hỏi xả giao, chồng tôi vẻ mặt băn khoăn lên tiếng:
_ Ông bà sống bình yên trong căn nhà mới chứ?
_ Cám ơn anh chị, chúng tôi vẫn bình an cả !
_ Chúc mừng ông bà! Nhưng tôi có điều băn khoăn trong lòng mà nếu không nói ra tôi sợ nó sẽ cắn rứt chúng tôi sau này! Số là cái hồ tắm sau nhà không phải là một cái hồ bình thường! Đã có ba người chết ở dưới đó rồi đó! Xin ông bà hãy cẩn thận!
Ông ta cười to ra vẻ tự tin lắm:
_ Cám ơn anh chị đã nhắc cho điều này! Trước khi mua nhà chúng tôi đã điều tra kỹ về nó rồi! Tuy không tin ma quỷ nhưng tôi cũng đề phòng hết rồi! Vả lại nhà quá rẻ tội gì không mua, phải không anh chị?! Ha ha hạ. , Xin lỗi, tôi chỉ nói đùa một chút cho vui thôi, anh chị đừng giận nhé! Thật ra sau khi mua nhà, chúng tôi đã mời Cha đến làm phép trừ quỷ, và còn hơn thế nữa chúng tôi đã thuê người phá bỏ cái hồ, đổ đầy đất và trồng cỏ lên rồi! Không còn gì phải lo lắng nữa!
_ Chúc mừng ông bà! Chúng tôi phải đi đây, xin chào ông bà nhé!
Trong lúc lái xe về, chồng tôi như hơi tiếc nói:
_ Tại sao lúc đó mình không biết đường làm như ông ta nhỉ !!!
_ Thôi đi anh! Bây giờ có cho ở không em cũng nói "No, thanks" thôi anh ạ !
Ông chủ nhà mới đã đúng, chúng tôi ở vùng này đã cả chục năm rồi mà không nghe có gì lạ xảy ra trong căn nhà đó nữa! Có lẽ con ma dưới hồ tắm đã bị Cha xứ làm phép đuổi mất, hoặc nó đã không còn chổ ở mà phải dọn đi nơi khác chăng!
Sau một tháng tìm kiếm, chúng tôi đã tìm được một căn nhà vừa ý, giá lại rẻ ! Đó là một căn nhà Cape, có rào chung quanh, ba phòng ngủ, hai phòng tắm, finished basement, và đặc biệt là có một hồ tắm chìm (underground swimming pool) rất rộng! Tôi thích cái hồ tắm lắm vì đã chán ngấy cái cảnh chen chúc ở các bờ hồ, bờ biển vào mỗi mùa Hè! Nay vợ chồng tôi có thể thoải mái ngâm mình trong nước mát lạnh mà không phải đi đâu xa nữa!
Chúng tôi mua nhà vào mùa Đông nên cái hồ vẫn được che phủ bằng tấm bạt! Tôi ước mong cho mùa Hè chóng tới để tha hồ bơi lội trong đó! Rồi thì mùa Hè cũng tới, chồng tôi gở tấm bạt phủ và cọ rửa đáy hồ trước khi xả nước vào! Anh ấy làm theo lời chỉ dẫn của một người bạn Mỹ để chúng tôi không còn phải lo lắng gì khi tắm! Số là tôi sinh trưởng ở một tỉnh miền Tây tại VN nên bơi lội là nghề của tôi từ hồi còn bé! Chồng tôi sinh quán tại Nha Trang nên bơi lội với anh chỉ là trò đùa!
Trưa thứ Bảy đầu tiên sau khi hoàn tất việc sửa soạn cho hồ, tôi thích thú nhảy ngay xuống và bơi thoải mái qua lại từ đầu hồ tới cuối hồ! Bơi được chừng 15 phút, tôi nhoài lại gần cái thang và giữ lấy nó cho đỡ mệt! Bổng tôi có cái cảm giác là có một bàn nào đó nắm lấy cổ chân tôi! Nhìn qua làn nước trong suốt tận đáy hồ, tôi không thấy ai cả! Nhưng chân tôi vẫn như bị ai nắm lấy! Tuy chồng tôi nằm đọc báo trên ghế ở cái deck ngay bờ hồ, tôi không gọi anh ấy vì sợ cho là nhát nhúa! Nhưng tôi cũng không giám ngâm mình lâu hơn! Tay đang nắm cái thang nhôm lên xuống hồ, tôi leo vội lên ngồi cạnh chồng! Một lúc sau anh ấy nhảy xuống bơi, tôi đợi xem có sự gì lạ xảy ra cho anh ấy không! Chẳng có gì cả ! Chồng tôi ngoắc tôi xuống, tôi ngần ngừ một lúc rồi nhảy xuống cạnh chồng! Tôi cẩn thận chỉ bơi theo chồng mà chẳng giám rời xa vì cái cảm giác lúc nãy vẫn còn ám ảnh tôi! Mọi việc tốt đẹp, tôi không thấy có cảm giác bị nắm chân nữa! Chắc là do tôi tưởng tượng ra thôi!
Hôm sau chúng tôi lại xuống tắm, vừa nhảy xuống bơi được một vòng thì cái cảm giác bị nắm chân lại đến với tôi! Lạ một điều là cái bàn tay vô hình đó chỉ nắm lấy chân tôi chứ không kéo ghị gì cả nên tôi vẫn bơi lội thoải mái! Chỉ thấy như chân mình bị nắm thôi! Tôi cố đập chân thật mạnh để xem cái cảm giác đó có biến đi không! Không, nó như bám chặt lấy chân tôi! Đâm sợ tôi bơi vào bờ và leo lên ngồi cạnh chồng trên deck! Một lúc sau tôi làm như vô tình hỏi:
_ Anh có cảm thấy bị vướng víu gì trong khi bơi không hả?
_ Đâu có gì đâu em! Rất thoải mái, nước trong mát anh rất thích! Mình cùng bơi nghe em!
Rồi anh ấy nhảy xuống bơi mấy vòng và ra hiệu cho tôi nhảy xuống hồ! Bất đắc dĩ tôi phải làm theo! Lạ thay tôi không có cái cảm giác bị nắm như khi tôi bơi một mình trong hồ! Tôi suy ra có lẽ do tôi sợ vẫn vơ vì hồi bé hay nghe kể chuyện "ma da" mà ra thôi! Mà ma da thì ở sông, ở hồ chứ đâu có khi nào tôi nghe nói là có nó trong hồ tắm đâu! Đúng là tôi sợ vẩn vơ rồi! Tuy tự nhủ như vậy, nhưng sau này mỗi khi ra tắm là tôi đợi chồng tôi nhảy xuống rồi mới nhảy theo! Mọi việc êm đẹp và tôi cứ theo đó mà theo để khỏi bị cái cảm giác kia làm sợ hãi và khó chịu!
Gần cuối mùa Hè năm đó là sinh nhật thứ 26 của tôi! Vợ chồng tôi tổ chức tiệc sinh nhật tại nhà và mời anh em, họ hàng, cùng bạn bè đến dự! Chồng tôi không uống rượu, chỉ khi nào đi dự tiệc tùng thì anh ấy mới uống một lon bia cho vui thôi! Còn tôi thì chỉ cần một ngụm rượu cũng đủ làm cho say rồi! Nhưng vì là tiệc sinh nhật của tôi, nên họ bắt tôi uống mấy ly rượu nhỏ, và để tiệc được vui tôi không thể từ chối được! Xong tiệc, mọi người xúm nhau nói chuyện một lúc rồi từ giả ra về! Vợ chồng tôi dọn dẹp và bỏ chén dĩa vào máy rửa! Thấy mặt tôi đỏ bừng vì rượu chồng tôi bảo là hãy nằm trên sofa nghĩ cho tỉnh rượu đi! Anh ấy xuống basement dọn dẹp dưới đó một chút vì mấy đứa nhỏ con của bạn bè, họ hàng xuống chơi bày bừa bộn dưới đó!
Đang nằm thiu thiu bổng có một ma lực nào đó bảo tôi đứng dậy và đi ra hồ tắm! Tôi nghe theo như một kẻ mất hồn! Chân tôi bước ra hồ rồi tự nhảy xuống đó! Cái cảm giác bị ai nắm chân lại đến với tôi! Lần này cả hai chân tôi bị nắm và tệ hại hơn là chúng kéo tôi xuống đáy hồ! Tôi vùng vẫy mà không sao thoát được hai bàn tay đó! Mở miệng ra thì bị nước vào, tôi uống mất mấy ngụm vào bụng! Nhưng khi tới đáy hồ thì bản tính tự mhiên tìm cái sống thúc đẩy làm tôi trở lên mạnh mẻ! Tôi đạp thật mạnh để trồi lên mặt nước, vừa cố ngáp thở được hai hơi, đôi tay đó đã kéo ngược tôi xuống đáy trở lại! Không, tôi không thể chết như thế này được! Tôi mới có 26 cái xuân xanh, tôi còn quá trẻ để mà chết! Bản năng sinh tồn cho tôi sức mạnh và tôi vùng lên mặt nước một lần nữa! Đôi bàn tay đó chẳng để cho tôi thở lâu lấy sức, chúng kéo mạnh tôi trở xuống đáy hồ! Tôi cố mở miệng kêu cứu nhưng nước tràn vào miệng làm tôi sặc sụa! Bụng tôi đã chứa khá nhiều nước rồi! Tôi cảm nhận được điều đó! Trong cơn nguy ngập, tôi nghĩ đến chồng, đến cha mẹ, đến anh chị em tôi! Không! Không, tôi chưa muốn chết! Chúng tôi mới cưới nhau được một năm thôi! Tôi mới chỉ hưởng được cái hạnh phúc vợ chồng này chưa đầy một năm, tôi chưa sinh cho chồng tôi một đứa con trai và một cô con gái như chúng tôi đã ước mong mà! Tôi chưa trả được tí gì cho công ơn dưỡng dục của cha mẹ tôi! Tôi không thể chết được! Nhưng ai cứu được tôi bây giờ! Trong cái giờ phút cuối cùng này, tôi cố nhoài người lên một lần cuối! Tôi vẫn cảm nhận là đôi bàn tay kia đang kéo tôi trở xuống, trước lúc ngất đi tôi cảm thấy có đôi tay quàng qua người mình! Tôi chỉ còn một thoáng nghĩ trước lúc hôn mê là đôi tay kia tới mang tôi về cỏi chết!
Khi tôi tỉnh dậy thấy mình trong bệnh viện, bên giường là gương mặt lo lắng của chồng và bố mẹ tôi! Tôi mừng rở mặt dàn dụa nước mắt! Tôi không biết tại sao mình còn sống và ở trong đây! Ai đã cứu tôi khỏi đôi bàn tay quái quỷ đó! Đợi tôi định tỉnh một hồi, chồng tôi mới nhỏ nhẹ nói:
_ Anh vừa ở basement lên, không thấy em đâu cả! Anh gọi nhưng không ai trả lời, vào phòng ngủ cũng không thấy em! Anh chạy ra sau thì thấy tay em thò vẫy vùng trên mặt nước và đang chìm dần! Anh hoảng quá nhảy xuống vớt em lên rồi kêu 911 ! Họ đến làm hô hấp nhân tạo và chở em vào đây! Cũng may em chưa chìm lâu nên không nguy đến tính mạng!
Tôi còn mệt nên chẳng nói gì hết! Hôm sau, họ cho tôi xuất viện! Về nhà tôi mới kể cho chồng nghe về việc tôi đã trải qua! Tôi giám chắc là trong hồ tắm có "ma da" vì nó đã cầm chân tôi từ ngày đầu tiên rồi! Việc này không phải do tôi tưởng tượng ra đâu! Chồng tôi bán tín bán nghi vì anh ấy là người sùng đạo lắm và không tin có ma quỷ hiện hình trên thế gian này! Nhưng thấy tôi quá khẳng định nên anh ấy chiều lòng và cùng tôi ghé qua nhà hàng xóm hỏi thăm! Ông bà hàng xóm là một cặp vợ chồng Mỹ già, họ không có con cái! Thấy chồng tôi hỏi thăm về cái hồ tắm phía sau nhà, bà già tái mặt không giám hở lời! Ông già mời vợ chồng tôi vào nhà chơi rồi thủng thẳng nói:
_ Thấy cô còn sống chúng tôi mừng cho cô lắm!! Ba người đàn bà trước kia ở căn nhà đó không được may như cô đâu!! Mà tôi nghe nói phụ nữ Á Đông các cô ít ai uống rượu lắm, phải không? Sao mà cô lại bị chìm trong hồ kìa! Tôi thấy hơi lạ đó!
_ Đúng đó bác ạ! Chúng tôi không uống rượu, nhưng hôm đó là sinh nhật của cháu nên bạn bè ép uống một hai ly nhỏ, nhưng vì không quen nên cháu bị say đó!
_ Thảo nào! Con ma trong hồ tắm đó chỉ kéo phụ nữ say rượu thôi!
_ Sao lại có chuyện đó hả bác? Bác nói là con ma trong hồ tắm! Vậy ra hồ nhà cháu có ma thật sao?
_ Vâng cô ạ! Nhiều người không tin, nhưng tôi ở đây đã 15 năm rồi, và đã chứng kiến cái chết của ba phụ nữ tại hồ nhà cô rồi đó! Bộ các cháu không hay biết gì về lịch sử của cái nhà đó sao?!?!
_ Tụi cháu lần đầu mua nhà nên có biết gì đâu ! Ông realtor có nói gì về điều này đâu ! Thấy nhà rẻ lại ở địa điểm tốt nên tụi cháu mua ngay thôi!
_ Thôi để tôi kể cho cô chú nghe về chuyện này: "Nạn nhân đầu tiên là vợ của người chủ đầu của căn nhà đó, một hôm chồng đi vắng bà ta uống rượu quá độ rồi lạng quạng sao đó mà té xuống hồ chết! Chiều tối khi chồng về khám phá ra vợ mình chìm dưới hồ, liền kêu cảnh sát, nhưng bà ta đã chết lâu rồi! Bác sĩ giảo nghiệm và quy cái chết của bà ta là do tai nạn - Say rượu rồi té xuống hồ chết đuối - Ông ta buồn lắm và bán nhà đi nơi khác để quên đi nỗi đau mất vợ! Gia đình thứ hai mua căn nhà này được chừng 1 năm, một ngày kia khi người chồng đi làm về không thấy vợ đâu, chạy ra sau tìm, và thấy vợ bị chết chìm trong hồ! Ông ta kêu 911 và họ cũng không cứu được bà ta! Bác sĩ giảo nghiệm đưa đến cùng một kết quả như cái chết của người đầu tiên! Do tai nạn vì say rượu!! Ông chồng ở thêm một thời gian rồi cũng bán căn nhà cho người khác! Vợ chồng chủ mới này đã trung niên, và có 2 người gái con tuổi choai choai đang học trung học! Họ sống yên ổn được chừng hai năm thì sự việc lại xảy ra! Đứa con gái lớn bị bồ ruồng rẩy, một bữa kia cô ta một mình ở nhà lấy rượu uống giải sầu! Khi cha mẹ cô ta về nhà đã thấy cô ấy chết dưới đáy hồ rồi! Bác sĩ và cảnh sát đưa ra kết luận như những lần trước ! Họ làm việc theo khoa học và không tin vào thế giới vô hình nên các giả thuyết khác về sự trùng hợp của ba cái chết này đều bị họ gạt đi! Nhưng vợ chồng tôi thì tin là có cái gì đó đằng sau ba cái chết này! Chúng tôi đoán là cái hồ tắm đó có quỷ, và nó chỉ lựa phụ nữ say rượu để kéo xuống đáy hồ thôi! Hôm thấy xe cứu thương tới nhà anh chị, vợ chồng tôi đã bảo nhau là lại thêm một nạn nhân nữa của cái hồ quái quỷ kia! May mắn là cô không chết! Cô có thấy điều gì khác lạ không?
_ Dạ, mỗi lần cháu xuống hồ tắm một mình, cháu đều cảm thấy một bàn tay vô hình nắm lấy chân cháu! Nhưng nó chỉ nắm thôi chứ không làm gì khác! Đến hôm cháu bị say rượu thì như có ai xúi bẩy cháu nhảy xuống hồ, và lần này nó kéo cháu bằng cả hai tay xuống đáy hồ! May mà chồng cháu thấy kịp, không thì cháu đã cùng chung số mạng với ba người kia rồi!
_ Chúng tôi chúc mừng cô đã thoát nạn, từ giờ về sau phải cẩn thận nhé!
Chúng tôi từ giả họ ra về! Câu chuyện này làm tôi sợ lắm nên tôi thuyết phục chồng tôi bán nhà đi nơi khác ở ! Anh ấy ngần ngừ nhưng sau vài lần cố gắng tôi cũng làm anh ấy xiêu lòng! Chúng tôi gọi realtor để họ bán giùm nhà! Trong khi chờ đợi bán nhà, chúng tôi không giám bén mảng ra hồ tắm nữa! Vì còn là mùa Hè nên chúng tôi thường mở cửa sổ vào ban đêm cho mát! Chồng tôi lên giường một lúc là ngủ say như chết! Còn tôi từ hôm nghe chuyện về cái hồ thường trằn trọc, khó ngủ, và bị ám ảnh bởi con ma dưới đó! Cứ gần nửa đêm là tôi lại nghe tiếng đập nước ầm ầm như có người vẫy vùng trong hồ! Tôi nghe nhưng vì sợ nên cố nằm yên không giám động đậy! Có đêm tôi liều đánh thức chồng dậy để anh ấy nghe tiếng động, nhưng ngay lúc đó tiếng vùng vẫy bổng im bặt làm tôi bị chồng rầy vì tội phá giấc ngủ !! Để kiểm xem điều mình nghe có đúng không, một sáng tôi mở cái slide door nhìn ra deck, điều tôi nghe không phải do tưởng tượng! Nước còn đọng vũng trên deck dù trời không mưa cả tuần rồi, và không ai trong chúng tôi tắm ở đó cả ! Tôi kéo chồng ra xem mấy vũng nước để minh chứng là những tiếng động tôi nghe là đúng! Chồng tôi không nói gì nhưng anh ấy hành động ngay, bằng cách xả hết nước trong hồ ra rồi phủ nó lại bằng tấm bạt dùng để phủ trong mùa Đông! Tôi yên tâm là sẽ không còn nghe tiếng vẫy vùng trong đêm nữa!
Nhưng tôi đã lầm! Khuya đó thay vì nghe tiếng đập nước thì tôi lại nghe tiếng đàn bà rên rỉ, khóc tỉ tê từ sau hồ vọng về! Tiếng khóc, tiếng rên nghe rợn cả người! Tôi cố bịt tai lại nhưng tiếng vọng ai oán này vẫn lọt vào tai! Tôi chịu không nổi nhưng không giám tự mình ra đóng mấy cái cửa sổ lại!! Tôi đành phải đánh thức chồng và nhờ anh ấy ra đóng giùm mấy cửa sổ ! Tiếng rên không vọng vào nữa! Tư đó hằng đêm tôi luôn nhớ đóng tất cả các cửa sổ trước khi đi ngủ !
Rồi nhà tôi cũng bán được, tuy là bị lỗ hết cả 10%! Không sao! Miễn bán được là tốt rồi! Tạm thời chúng tôi thuê tạm một town house để ở! Cả hai chúng tôi đều có việc làm tốt nên việc mua nhà mới sẽ không có gì khó cả, nhưng lần này chúng tôi phải điều tra kỹ về cái mà mình sẽ mua, và dù rất thích bơi lội tôi nói với chồng là không mua nhà có hồ tắm nữa! Một lần cũng đủ làm tôi tởn tới già rồi! Một hôm khoảng ba tháng sau, khi đi sắm đồ trong Mall, chúng tôi tình cờ gặp vợ chồng người mới mua căn nhà đó! Sau khi bắt tay chào hỏi xả giao, chồng tôi vẻ mặt băn khoăn lên tiếng:
_ Ông bà sống bình yên trong căn nhà mới chứ?
_ Cám ơn anh chị, chúng tôi vẫn bình an cả !
_ Chúc mừng ông bà! Nhưng tôi có điều băn khoăn trong lòng mà nếu không nói ra tôi sợ nó sẽ cắn rứt chúng tôi sau này! Số là cái hồ tắm sau nhà không phải là một cái hồ bình thường! Đã có ba người chết ở dưới đó rồi đó! Xin ông bà hãy cẩn thận!
Ông ta cười to ra vẻ tự tin lắm:
_ Cám ơn anh chị đã nhắc cho điều này! Trước khi mua nhà chúng tôi đã điều tra kỹ về nó rồi! Tuy không tin ma quỷ nhưng tôi cũng đề phòng hết rồi! Vả lại nhà quá rẻ tội gì không mua, phải không anh chị?! Ha ha hạ. , Xin lỗi, tôi chỉ nói đùa một chút cho vui thôi, anh chị đừng giận nhé! Thật ra sau khi mua nhà, chúng tôi đã mời Cha đến làm phép trừ quỷ, và còn hơn thế nữa chúng tôi đã thuê người phá bỏ cái hồ, đổ đầy đất và trồng cỏ lên rồi! Không còn gì phải lo lắng nữa!
_ Chúc mừng ông bà! Chúng tôi phải đi đây, xin chào ông bà nhé!
Trong lúc lái xe về, chồng tôi như hơi tiếc nói:
_ Tại sao lúc đó mình không biết đường làm như ông ta nhỉ !!!
_ Thôi đi anh! Bây giờ có cho ở không em cũng nói "No, thanks" thôi anh ạ !
Ông chủ nhà mới đã đúng, chúng tôi ở vùng này đã cả chục năm rồi mà không nghe có gì lạ xảy ra trong căn nhà đó nữa! Có lẽ con ma dưới hồ tắm đã bị Cha xứ làm phép đuổi mất, hoặc nó đã không còn chổ ở mà phải dọn đi nơi khác chăng!
(sưu tầm)
Chơi với lửa
Tôi không có ý định nói về những gì đã xảy ra một cách chính xác ngày mười bốn tháng tư vừa qua tại số nhà 17 đường Badderly Gardens. Khi viết ra trên giấy trắng mực đen, các giả thiết của tôi có vẻ quá lố bịch để được mọi người coi là truyện đứng đắn.
Tuy vậy đúng là có truyện gì đó đã xảy ra: một truyện quá lạ lùng khiến chúng tôi phải nhớ tới cho tới khi chết; câu chuyện này chắc chắn đáng tin cũng như có sự chứng nhận của năm người. Tôi sẽ không để mình bị lôi kéo vào những cuộc tranh luận hay những sự suy diễn. Tôi chỉ xin đưa ra một kiểu lời khai mà tôi đã đưa cho John Moire, cho Harver Deacon và bà De la Mer xem qua; tôi chỉ công bố lời khai này sau khi được họ công nhận từng chi tiết trong đó. Tôi buộc phải bỏ qua sự chấp nhận của Paul Le Duc vì ông đã rời khỏi nước Anh.
Chính John Moire, hội viên thứ nhất của công ty Moire, Moire và Sanderson là người đầu tiên đã lôi kéo sự chú ý của chúng tôi tới các vấn đề của khoa học huyền bí. Giống như nhiều thương gia rất cương quyết và thực tế, ông có một khía cạnh huyền bí, chính khía cạnh này đã đưa ông tới sự khảo sát và chấp nhận, khi có cơ hội, các hiện tượng huyền hoặc mà người ta đã gói ghém lại cùng với nhiều điều ngu xuẩn và giả trá dưới nhãn hiệu thông linh học. Ông đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu với một tinh thần tự do, chẳng mấy chốc những nghiên cứu đó đã mang bộ mặt của các giáo điều; lúc đó ông cũng trở nên tích cực và cuồng tín như một người sùng đạo mù quáng. Trong nhóm người nhỏ bé của chúng tôi, ông tiêu biểu cho những người huyền bí đã tạo lập một tôn giáo mới dựa theo các hiện tượng lạ lùng này.
Bà De la mer, bà đồng của chúng tôi, là em gái ông và cũng là vợ của nhà điêu khắc De la mer. Kinh nghiệm đã cho chúng tôi thấy rằng đụng tới những vấn đề này mà không có người ngồi đồng thì chỉ uổng công, cũng như một nhà thiên văn muốn tiến hành quan sát mà lại không có kính viễn vọng vậy. Mặt khác không bào giờ chúng tôi muốn đưa vào nhóm chúng tôi một bà đồng chuyên nghiệp; các bà này rõ ràng chỉ cốt moi tiền chúng tôi nên mới làm việc đó và dễ quay ra lừa bịp; làm sao chúng tôi có thể tin được những hiện tượng được tạo ra với giá biểu một đồng bạc một giờ?
May mắn thay, Moire đã khám phá ra rằng cô em gái ông có khả năng lên đồng, nói theo cách khác bà ta là một cục pin của năng lượng nhân điện, hình thức năng lượng duy nhất khá tế nhị để có thể vận dụng hữu hiệu trên bình diện tinh thần cũng như trên bình diện vật chất của chúng ta. Tất nhiên khi nói đến điều này tôi tuyệt đối không có ý khẳng định những gì liên hệ tới vấn đề là xác thực: tôi chỉ nhắc tới các lý thuyết nhờ vào đó chúng tôi đã giải thích, có thể là sai mà cũng có thể là đúng, những điều chúng tôi đã nhìn thấy. Bà đồng này đã tới, tuy không hoàn toàn được ông chồng đồng ý. Dù không bao giờ bà cho ta có cảm tưởng bà có một sức mạnh rất lớn về tâm linh, chúng tôi vẫn thấy những kiểu thần giao cách cảm theo thói quen vừa ngây thơ ấu trĩ vừa không thể giải thích được. Chiều chủ nhật nào cũng vậy, chúng tôi gặp nhau tại phòng làm việc của Harver Deacon ở Bedderly Gardens trong căn nhà ở góc đường Merton Park. Đầu óc giàu tưởng tượng của Harver Deacon đã phung phí trong nghệ thuật của ông làm bất cứ ai nhìn thấy cũng phải coi ông là một tay chơi tài tử rất hăng say về tất cả những gì kỳ quái và dễ gây xúc động. Chắc chắn sự ngoạn mục trong việc nghiên cứu các khoa học huyền bí đã lôi cuốn ông lúc khởi đầu; nhưng rồi sự chú tâm của ông đã nhanh chóng chuyển sang một vài hiện tượng mà tôi vừa nói tới, và ông đã đi tới kết luận rằng những điều ông từng coi là một cuộc mạo hiểm lãng mạn để chơi đủa, như một sự giải trí trong lúc trà dư tửu hậu, thật ra là một sự thực rất đáng sợ. Vốn có bộ óc thông minh và duy lý nổi tiếng, trong cái thế giới nhỏ bé của chúng tôi ông là hình ảnh của một phần tử hay phê phán, một người không có thành kiến lúc nào cũng sẵn sàng theo dõi các sự việc đúng như ông nhìn thấy chúng và luôn khước từ việc đưa ra trước một lý thuyết về những thông tin của ông. Sự khôn ngoan của ông đi ngược lại ý của Moire, giống hệt như chuyện đức tin mạnh mẽ của ông này làm trò cười cho Deacon. Nhưng theo cách của họ, cả hai đều là những kẻ loạn trí.
Còn tôi? Tôi có thể tự coi mình là người thế nào đây? Tôi không phải là người mộ đạo. Tôi cũng không phải là một người phê bình theo lối khoa học. Cứ cho rằng tôi là một anh thị dân có tính tài tử, thích được thấy mình trong một trào lưu thời thượng, biết ơn tất cả những cảm xúc mới làm tôi say mê và mở cho tôi những hướng đi mới về đời sống. Bản thân tôi không phải là người có nhiệt huyết, nhưng tôi thích giao du với những người có nhiệt huyết. Những ý kiến của Moire cho tôi cảm tưởng chúng tôi đã có một giấy thông hành đặc biệt để mở cánh cửa của cõi chết, và làm tôi hoàn toàn mãn nguyện. Tôi thấy rất thoải mái với bầu không khí ấm cúng của buổi họp mặt dưới ánh sáng mờ ảo. Nói tóm lại, chuyện này làm tôi thích thú. Đó là lý do tại sao tôi đã có mặt tại đó ngày 14 - 4, để chứng kiến một cảnh rất kỳ lạ mà tôi sẽ thuật lại ngay bây giờ.
Trong số đàn ông thì tôi là người tới trước nhất, nhưng bà De la mer đã có mặt trong phòng làm việc của Deacon rồi, vì bà đã uống trà với bà Deacon. Hai bà và ông Deacon đang đứng trước một bức hoạchưa hoàn tất đặt trên giá. Tôi không phải là người sành sỏi về hội hoạ và không bao giờ dám nói là hiểu ý nghĩa các bức hoạ của Deacon. Tuy nhiên trong trường hợp nay, tôi thấy bức hoạ tuyệt đẹp, rất kỳ ảo, thấm đượm vẻ thần tiên, chứa đầy các loài vật và những hình ảnh tượng trưng đủ loại. Các bà ngợi khen ông hết lời, hiệu lực của màu sắc quả là tuyệt mỹ.
- Ông nghĩ thế nào, ông Markham? Ông ta hỏi tôi.
- Thú thật điều này vượt quá mức hiểu biết của tôi! Tôi đáp lại. Những con thú này... Đó là những con gì vậy?
- Những con quái vật trong thần thoại, những con vật tưởng tượng, các kiểu huy chương. Một đám rước kỳ dị, bí ẩn.
- Với một con ngựa trắng đi đầu!
- Đó không phải là một con ngựa!
Ông đã phản đối lại với một giọng nghiêm nghị, điều làm tôi kinh ngạc vì ông vốn có tính tình rất tốt và không bao giờ tỏ ra quá trang nghiêm.
- Vậy đó là cái gì?
- Ông không trông thấy cái sừng trên trán nó à? Đó là một con kỳ lân. Tôi đã nói với ông đó là những con thú tưởng tượng. Ông không thể nhận ra con nào cả sao?
- Tôi thấy thất vọng, ông Deacon ạ!
Có vẻ như ông đã bị xúc phạm dữ dội, nhưng ông bật cười lớn.
- Hãy tha thứ cho tôi, ông Markham ạ! Ông nói với tôi. Thật ra tôi đã làm một công việc điên rồ với con thú này. Suốt cả ngày tôi vẽ nó, vẽ đi vẽ lại, cố tưởng tượng xem nếu như có một con kỳ lân sống thì nó giống cái gì. Sau cùng tôi tin rằng tôi đã thành công. Ít nhất tôi cũng đã hy vọng vậy, nhưng khi ông không nhận ra nó, tôi thấy bị chạm tự ái dữ dội.
- Chắc chắn đó là một con kỳ lân! Tôi kêu lên với vẻ tin tưởng, vì tôi thấy ông bực bội bởi sự mù tịt của tôi. Tôi phân biệt rất rõ cái sừng, nhưng chưa bao giờ tôi nhìn thấy kỳ lân cả, ngoài những thứ được vẽ trên các huy hiệu hoàng gia, và tôi tuyệt đối không tin là có con thú này. Những con thú khác là những con quái vật đầu sư tử, những con mãng xà và rồng đủ loại, có phải thế không?
- Vâng, với những con này tôi không gặp một khó khăn nào. Chỉ có con kỳ lân này là làm cho tôi bực mình. Thôi, thế cũng tạm đủ cho tới ngày mai.
Ông quay lật bức hoạ lại ở trên giá và chúng tôi chuyển câu chuyện sang đề tài khác.
Chiều hôm đó ông Moire tới trễ. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy ông đi cùng một người Pháp thấp nhỏ và khoẻ mạnh, mà ông giới thiệu với chúng tôi dưới cái tên là Paul Le Duc. Tôi nói rằng chúng tôi ngạc nhiên, vì chúng tôi giữ quy luật là một sự xâm nhập vào nhóm thông linh học của chúng tôi sẽ làm xáo trộn tình thế và đưa vào một phần tử khả nghi.
Chúng tôi biết có thể tin cậy lẫn nhau, nhưng tất cả kết quả của chúng tôi sẽ có nguy cơ bị hoài nghi bởi sự hiện diện của một người ngoài cuộc. Tuy nhiên, ông Moire đã mau lẽ trấn an chúng tôi. Ông Paul Le Duc là một môn đồ danh tiếng của khoa thần bí học. Ông du lịch tới nước Anh mang theo một thư giới thiệu của ông chủ tịch hội Huynh đệ những người dân Paris của giáo phái Rose-Croix gửi cho ông Moire. Như vậy thật hoàn toàn bình thường khi ông được mời tới dự cuộc ngồi đồng của chúng tôi; chúng tôi còn thấy vinh dự về sự có mặt của ông.
Như tôi đã nói, ông ta nhỏ bé và khoẻ mạnh, nom bề ngoài không có gì đặc biệt. Trên khuôn mặt lớn được cạo nhẵn của ông chỉ có đôi mắt to màu nâu là đáng kể mà thôi. Ông ăn mặc lịch sự, có điệu bộ của một người thượng lưu và nói tiếng Anh bằng một giọng khiến các bà tủm tỉm cười. Bà Deacon vốn không muốn tắt bớt đèn đi như thường lệ và chúng tôi kéo nhích ghế lại gần chiếc bàn vuông bằng gỗ bạch đàn được kê ở giữa phòng. Ánh sáng yếu ớt nhưng cũng đủ để chúng tôi nhìn thấy nhau rất rõ ràng. Tôi nhớ là tôi còn có thể nhìn thấy rõ ông người Pháp có hai bàn tay nhỏ nhắn mũm mĩm với những ngón tay vuông.
- Thật vui nhỉ! Ông nói với chúng tôi. Đã từ nhiều năm nay tôi không ngồi dự theo lối này, tuy nhiên tôi rất thích việc này. Bà là bà đồng đúng không? Có phải bà hành nghề lên đồng không?
- Không hoàn toàn đúng, bà De la mer đáp lại. Nhưng bao giờ tôi cũng cảm thấy một sự chập chờn nửa thức nửa ngủ.
- Đó là giai đoạn đầu. Chỉ cần thúc đẩy thêm là nó tới chỗ đồng nhập. Khi đồng nhập rồi thì linh hồn bé nhỏ của bà bay đi và một linh hồn khác tới thế chỗ của nó, do đó mà bà đã có giọng nói và tuồng chữ tự động phát sinh. Bà đã để cho người khác nằm quyền điểu khiển cơ thể của bà, phải vậy không? Nhưng những con kỳ lân thì có gì dính líu tới chúng ta?
Harver Deacon giật nảy người lên. Ông người Pháp từ từ quay đầu lại và chăm chú nhìn vão những bức màn tối sẫm che phủ các bức tường.
- Nom có vẻ ngồ ngộ! Ông ta lẩm bẩm. Luôn luôn là những con kỳ lân. Ai đã nghĩ tới một đề tài kỳ cục như vậy với một cường độ mạnh như thế?
- Thật là kỳ diệu! Deacon kêu lên. Suốt cả ngày tôi đã cố sức vẽ ra một con. Tại sao ông lại biết được?
- Ông đã nghĩ tới những con kỳ lân trong căn phòng này à?
- Chắc chắn là thế!
- Những tư tưởng là vật thể đó ông bạn ạ! Khi ông tưởng tượng tới một vật gì là ông đã tạo ra vật đó. Ông không biết như thế à? Nhưng tôi có thể nhìn thấy những con kỳ lân của ông và không phải chỉ có thể nhìn bằng mắt thôi đâu.
- Có phải ông muốn nói rằng tôi đã tạo ra một vật chưa bao giờ có thật cả chỉ bằng cách nghĩ đến nó thôi à?
- Rõ ràng là thế. Đó là một sự kiện nằm trong tất cả mọi sự kiện khắc. Đó là lý do tại sao một ý nghĩ xấu cũng là một sự nguy hiểm.
- Tôi lại nghĩ đó là trên bình diện siêu nhiên chứ? Ông Moire hỏi lại.
- À, đó chỉ là những từ thôi, ông bạn ạ! Những con vật đó ở kia kìa, tại một nơi nào đó, tại khắp mọi nơi, tôi không thể nói rõ được. Tôi nhìn thấy chúng. Tôi có thể sờ mó vào chúng.
- Ông không thể làm cho chúng tôi nhìn thấy chúng được à?
- Chỉ cần làm cho chúng trở thành hiện thực. Xin các ông chú ý lắng nghe, đây sẽ là cuộc thí nghiệm. Nhưng cần phải có quyền uy. Trước hết hãy đo lường quyền uy mà chúng ta có được, sau đó chúng ta sẽ thấy chúng ta có thể làm gì. Các vị có thể cho phép tôi được xếp cho ngồi cho quý vị theo ý muốn của tôi không?
- Chắc chắn ông là người thành thạo hơn chúng tôi, Deacon trả lời. Tôi mong rằng ông sẽ điều khiển mọi việc.
- Có thể các điều kiện không được hoàn hảo nhưng chúng ta sẽ làm những gì có thể làm. Xin bà cứ ngồi yên tại chỗ cũ, tôi sẽ ngồi cạnh bà ấy và quý ông đây sẽ ngồi bên tôi. Ông Moire sẽ ngồi cạnh bà, vì sự xen kẽ giữa màu nâu và vàng nâu là rất tốt. Vậy là được rồi. Và bây giờ xin quý vị cho phép tôi tắt hết đèn đi.
- Bóng tối thì có lợi ích gì? Tôi hỏi.
- Xung lực mà chúng ta liên hệ tới là một sự rung động của ête, giống hệt như ánh sáng vậy.Bây giờ chúng ta có những sợi dây liên lạc đặc biệt riêng của chúng ta, các vị hiểu không? Thưa bà, bà sẽ không thấy sợ hãi trong bóng tối chứ? Một buổi lên đồng như thế này thật rất vui!
Mới đầu chúng tôi thấy hoàn toàn tối mịt; nhưng sau một vài phút mắt chúng tôi quen dần với bóng tối: chúng tôi có thể nhận ra bóng của chúng tôi một cách rất mơ hồ và rất lộn xộn, tôi phải thừa nhận như vậy. Tôi không thể nhìn thấy những đồ vật khác trong phòng làm việc. Cả bọn chúng tôi đều trang nghiêm hơn rất nhiều so với những lần trước.
- Xin quý vị hãy đặt bàn tay ra trước mặt quý vị. Chúng ta không có cơ hội nào để đụng chạm vào nhau vì chúng ta quá ít người quanh một chiếc bàn kích thước lớn như vậy. Thưa bà, xin bà hãy chuẩn bị. Nếu cơn buồn ngủ kéo tới xin bà đừng cưỡng lại. Còn bây giờ chúng ta hãy ngồi yên lặng và chờ đợi.
Vậy là chúng tôi đều ngồi yên lặng chờ đợi trong khi phải nhìn xoi mói vào bóng tối trước mặt mình. Ngoài hành lang, tiếng đồng hồ kêu tích tắc. Xa xa một con chó sủa lên từng hồi. Hai hay ba lần có tiếng xe ngựa chạy lạo xạo ngoài phố, ánh sáng chập chờn từ những ngọn đèn của chúng lọt qua kẽ mành đã tạo nên một vài khoảng ấm cúng trong buổi thức thâu đêm của chúng tôi. Tôi cảm thấy các triệu chứng về thể xác đã trở thành quen thuộc qua các buổi lên đồng trước đây: đôi bàn chân giá buốt, bàn tay như bị kiến bò, một cảm giác ấm áp dịu dàng ở lòng bàn tay và một luồng gió lạnh lẽo trên lưng, những cơn đau nhức nhỏ, kỳ lạ nhất là ở hai cánh tay (đặc biệt là ở cánh tay trái, cánh tay gần vị khách của chúng tôi nhất). Những cảm giác này chắc chắn là do sự lộn xộn của hệ thống thần kinh mạch, nhưng dù sao cũng đáng lưu ý. Đồng thời tôi cảm thấy một cảm giác căng thẳng của sự nôn nóng chờ đợi, một cảm giác gần như đau đớn vậy. Cứ xét qua sự im lặng nghiêm ngặt tuyệt đối của các bạn tôi thì đủ biết họ cũng có các dây thần kinh căng thẳng như tôi.
Rồi đột nhiên một tiếng động nổi lên từ bóng tối: một tiếng rít trầm trầm. Đó là tiếng thở nhanh và nhẹ của một người đàn bà, càng lúc càng nhanh hơn, càng lúc càng nhẹ hơn, như thể hơi thở lọt qua hai hàm rằng nghiến chặt; rồi chúng tôi nghe thấy một tiếng nấc cụt khá mạnh, kèm theo một tiếng sột soạt của vải.
- Cái gì vậy? Có bình thường không? Một người hỏi trong bóng tối.
- Hoàn toàn bình thường, ông người Pháp trả lời. Đó là tiếng thở của bà ấy. Bà ấy đã nhập đồng. Thưa quý vị, bây giờ nếu quý vị vui lòng chờ đợi một cách bình thản, quý vị sẽ thấy một vật mà tôi tin sẽ làm quý vị vô cùng thích thú.
Vẫn còn tiếng tích tắc ngoài hành lang. Vẫn còn hơi thở, nhưng lúc này sâu hơn, dài hơn, của bà đồng. Vẫn còn những tia sáng chập chờn của những ngọn đèn xe ngựa, nhìn thấy rõ hơn bao giờ hết. Chúng tôi đang lấp đầy một cái vực thẳm gớm ghê ! Ở một bên là bức màn của sự vĩnh hằng đã hé lên một nửa, bên kia là những xe cộ của thành phố London. Chiếc bàn rung lên một nhịp thở mạnh mẽ. Nó lắc lư một cách đều đặn, nhịp nhàng, nó tự nâng lên, hạ xuống một cách nhẹ nhàng bên trong những thớ gỗ của nó; ta có thể nói đó là tiếng một bó củi đang nổ lách tách trong lò sưởi vào một đêm đông.
- Có rất nhiều quyền uy! Ông người Pháp lẩm bẩm. Các vị hãy nhìn trên bàn kìa!...
Tôi đã tưởng tôi là một kẻ làm trò cười cho ảo giác của riêng mình, nhưng tất cả mọi người đều nhìn thấy một thứ như tôi. Một thứ ánh sáng lân tinh màu vàng hơi xanh nhạt (có lẽ tôi nên gọi là một thứ hơi nước có ánh sáng hơn là một thứ ánh sáng!) trụ lại trên mặt bàn. Nó lăn đi, uốn éo, xoắn lại thành những nếp lập loè mờ ảo xoay quanh và tự xoay tròn như những đám mây khói. Qua ánh sáng kỳ diệu đó tôi có thể nhìn thấy hai bàn tay trắng trẻo và những ngón tay vuông của ông người Pháp.
- Tuyệt diệu! Ông ta kêu lên. Thật là thích thú.
- Ta có nên đòi các mẫu tự không? Ông Moire hỏi.
- Không! Chúng ta có thể đạt được những điều tốt hơn nhiều. Vị khách của chúng tôi đáp. Làm cho cái bàn lúc lắc ở mỗi chữ trong bảng chữ cái chỉ là trò trẻ con; với một bà đồng như quý bà đây, chúng ta phải làm được hơn thế.
- Vâng, các vị sẽ làm được nhiều hơn, một tiếng nói cất lên.
- Ai nói vậy? Có phải ông đấy không, ông Markham?
- Không, không phải tôi nói.
- Đó là bà đây đã nói.
- Nhưng không phải tiếng của bà ấy.
- Có phải bà không, thưa bà De la mer?
- Không phải là bà đồng đâu nhưng đó là quyền uy đã sử dụng cơ thể của bà đồng, tiếng nói trầm trầm xa lạ đáp lại.
- Bà De la mer đâu rồi? Tôi hy vọng rằng điều này sẽ không làm gì hại tới bà phải không?
- Bà đồng rất sung sướng trong một bình diện khác của đời sống. Bà đã ngồi vào chỗ của tôi, cũng như tôi đã ngồi vào chỗ của bà.
- Ông là ai?
- Điều đó không có gì quan trọng với ngài. Tôi là một người đã từng sống cũng như ông đang sống bây giờ và đã chết cũng như ông sẽ chết một ngày nào đó.
Chúng tôi nghe thấy tiếng ken két của bánh xe ngựa dừng lại trước cửa một ngôi nhà bên cạnh. Bên ngoài, người ta đang cãi nhau về giá cả chuyến xe, và vừa đánh xe đi bác đánh xe vừa càu nhàu một câu tục tĩu. Đám mây màu vàng xanh vẫn còn xoay tròn trên mặt chiếc bàn, lờ đờ trên toàn bộ bề mặt của nó, trừ một tia sáng yếu ớt; như thể nó dồn cả vào trước mặt bà đồng. Tim tôi như đóng băng vì lạnh và sợ hãi. Hình như chúng tôi đã khinh suất và dại dột đi tới gần sự thiêng liêng thực tại nhất và cao cả nhất; sự cảm thông với những người chết mà các cha của Giáo hội đã nói tới.
- Các ông không thấy rằng chúng ta đã đi quá xa à? Có lẽ chúng ta phải cắt đứt buổi lên đồng này đi thôi. Tôi kêu lên.
Nhưng những người khác rất muốn được coi tới phút chót. Sự áy náy của tôi làm họ bật cười.
- Tất cả mọi quyền uy đều được tạo ra cho người ta sử dụng, Harver Deacon trả lời tôi. Nếu chúng ta có thể sử dụng được thì chúng ta phải sử dụng. Tất cả những điểm xuất phát mới của tri thức đều đã bị coi là bất hợp pháp vào lúc khởi đầu. Đó là một điều đúng và hợp lý khi chúng ta tìm hiểu về bản chất của cái chết.
- Đó là đúng và hợp lý, tiếng nói tiếp lời.
- Đó! Ông còn muốn đòi hỏi gì hơn nữa? Ông Moire kêu lên, vẻ rất xúc động. Ta hãy làm một trắc nghiệm. Ông có vui lòng cho chúng tôi một bằng chứng rằng ông thật sự có mặt ở nơi đây không?
- Ông muốn thử nghiệm như thế nào?
- Đây này... Tôi có một ít tiền lẻ trong túi. Ông có thể nói cho tôi biết là bao nhiêu không?
- Chúng tôi tới đây với hy vọng là để giáo dục và giác ngộ, chứ không phải để giải đáp những câu đố trẻ con.
- A, ông Moire ơi, đó lả ông đã bị chỉnh rồi đó. Ông người Pháp kêu lên. Nhưng lời chỉ trích hoàn toàn đúng.
- Đây là một tôn giáo chứ không phải là một trò chơi, tiếng nói lạnh lùng và cứng rắn lại cất lên.
- Đúng thế. Tôi cũng có ý kiến như vậy. Ông Moire nói lớn. Tôi rất tiếc đã đặt ra một câu hỏi như vậy. Ông không thể vui lòng cho chúng tôi biết ông là ai à?
- Việc đó có liên quan gì tới ông?
- Chắc ông phải là một hồn ma từ lâu lắm rồi phải không?
- Vâng.
- Bao lâu rồi?
- Chúng tôi không tính thời gian như các ông. Hoàn cảnh đời sống của chúng tôi khác hẳn.
- Ông có sung sướng không?
- Có.
- Chắc ông không muốn trở lại trái đất nữa?
- Không. Chắc chắn là không.
- Ông có bận rộn lắm không?
- Chúng tôi sẽ không thể sung sướng được nếu chúng tôi không rất bận rộn.
- Ông làm việc gì?
- Tôi đã nói rằng hoàn cảnh của chúng tôi hoàn toàn khác biệt mà.
- Ông có thể cho chúng tôi một ý niệm về công việc của ông không?
- Chúng tôi làm việc cho sự tiến bộ của chính chúng tôi, cho sự thăng tiến của những người khác.
- Ông có thích tới đây chiều hôm nay không?
- Tôi thấy sung sướng được tới nếu sự tới thăm của tôi có thể làm được điều thiện.
- Vậy thì mục đích của ông là làm điều thiện à?
- Đó là mục đích của đời sống trên mọi bình diện.
- Ông Markham, ông thấy đó; đây là câu trả lời cho sự áy náy của ông.
- Đúng thật vậy. Những mối nghi ngờ của tôi đã tan biến: tôi đã thích thú một cách kỳ diệu.
- Ông có gặp những sự đau đớn trong cuộc sống của ông không? Tôi hỏi.
- Không. Sự đau đớn là một việc của thể xác.
- Ông có những điều đau khổ vè tinh thần không?
- Có. Bao giờ người ta cũng có thể buồn rầu hoặc lo lắng.
- Ông có gặp những bạn hữu mà ông đã bỏ lại trên trái đất không?
- Một vài người.
- Tại sao lại chỉ có một vài người?
- Chỉ gặp những người nào có cảm tình thôi.
- Những người chồng có gặp lại vợ họ không?
- Những ngưởi nào yêu họ một cách chân thực.
- Còn những người khác?
- Họ chẳng là cái gì đối với nhau cả.
- Liệu có một sợi dây liên hệ tinh thần không?
- Chắc chắn là có!
- Những điều chúng tôi làm có tốt không?
- Nếu các ngài làm điều đó với tinh thần thiện hảo.
- Vậy cái gì gọi là tinh thần xấu xa?
- Sự tò mò và sự khinh xuất.
- Như vậy có thể đưa tới điều gì tai hại không?
- Rất nhiều điều tai hại.
- Tai hại như thế nào?
- Các ông có thể làm nảy sinh những sức mạnh mà các ông không thể chế ngự được.
- Những sức mạnh tồi tệ à?
- Những sức mạnh không được khai hoá.
- Ông nói rằng chúng rất nguy hiểm. Nguy hiểm cho thể xác hay cho linh hồn?
- Đôi khi cho cả hai.
Một sự im lặng bao trùm. Bóng tối hình như sẫm hơn, trong khi đám sương mù màu xanh quay cuồng trên mặt bàn.
- Ông có muốn đưa ra câu hỏi nào nữa không, ông Moire? Harver Deacon hỏi.
- Một câu thôi: Trong thế giới của ông, ông có cầu nguyện không?
- Người ta phải cầu nguyện trong mọi thế giới.
- Tại sao vậy?
- Bởi vì đó là cách để biết những sức mạnh ở bên ngoài chúng ta.
- Ở đó các ông theo tôn giáo nào?
- Chúng tôi theo nhiều tôn giáo, giống như các vị vậy.
- Ông không có sự hiểu biết chắc chắn?
- Chúng tôi chỉ có đức tin thôi.
- Những vấn đề tôn giáo này sẽ được sự quan tâm của người Anh là những người trang nghiêm, nhưng chúng tôi không phải là thứ giải trí đâu. Tôi thấy rằng với quyền uy hiện hữu ở đây, ta có thể đạt được lợi ích từ một kinh nghiệm lớn, phải không? Về một điều gì đó mà ta có thể nói.
- Nhưng không có gì thích thú hơn điều đó! Moire chống lại.
- Nếu ông nghĩ được như vậy, được rồi, rất tốt. Ông người Pháp đáp lại với giọng bực bội. Về phần tôi, trước đây tôi đã nghe điều đó rồi và tôi tưởng chiều nay ta nên thử làm một việc khác, nhờ tất cả những quyền uy mà chúng ta được ban cho. Nhưng nếu ông có những câu hỏi khác, xin ông cứ đưa ra đi. Khi nào ông hỏi xong, chúng ta sẽ thử làm chuyện khác.
Hỡi ôi, sự say mê đã bị đứt đoạn. Chúng tôi hỏi, hỏi mãi mà không có kết quả: bà đồng ngồi yên lặng trên ghế. Chỉ có nhịp thở sâu, đều đặn của bà chứng tỏ bà còn ngồi ở đó. Đám sương mù vẫn còn quay tròn trên mặt bàn.
- Ông đã huỷ diệt sự hoà điệu. Bà ấy không muốn trả lời.
- Nhưng chúng ta đã biết được tất cả những gì bà có thể nói với chúng ta, phải không? Về phần tôi, tôi muốn thấy một cái gì đó mà chưa bao giờ tôi được thấy.
- Cái gì vậy?
- Ông có vui lòng để tôi thử làm không?
- Ông muốn làm điều gì?
- Tôi đã nói với ông rằng những ý nghĩ là những sự việc, những vật thể. Bây giờ tôi muốn chứng tỏ điều đó với ông và chỉ cho ông thấy cái vật vốn chỉ là một ý nghĩ. Vâng, tôi có thể làm việc đó và các vị sẽ thấy. Bây giờ tôi xin các vị hãy giữ im lặng, không nói gì cả và cứ đặt bàn tay của quý vị lên mặt bàn.
Căn phòng càng tối tăm hơn, lặng lẽ hơn bao giờ hết. Cũng cái cảm giác lo sợ ấy đã đè nặng lên tôi lúc bắt đầu buổi lên đồng lúc này lại dằn vặt trái tim tôi. Tôi thấy rờn rợn ở các chân tóc như có kiến bò.
- Được rồi đó! Ông người Pháp nói lớn.
Đám sương mù có ánh sáng từ từ rời xa chiếc bàn; nó vẫn bay chập chờn uốn éo trong phòng làm việc. Nó bay tới một góc tối tăm nhát, nơi đó nó tụ lại và phát ra một tia sáng, rồi thì nó đông đặc lại thành một cái nhân sáng và rõ ràng thành một vệt tia sáng đang tìm đường lẩn trốn, không soi sáng và không phát các tia sáng vào bóng tối, màu sắc của nó chuyển từ màu vàng xanh nhạt sang một màu đỏ lờ đờ hơi nâu đen nhạt. Chung quanh cái nhân này, một chất tối sẫm, mờ mờ như khói cuốn thành vòng và cứ dày đặc mãi lên, mỗi lúc một đặc thêm và đen kịt. Rồi ánh sáng tắt ngúm, như bị bóp nghẹt bởi cái vật mà nó bao quanh.
- Hắn đi rồi.
- Suỵt! Có một vật gì đó trong căn phòng.
Cái vật đó, chúng tôi nghe thấy nó ở góc phòng mà ánh sáng đã chuyển tới. Một vật gì thở phì phò và cựa quậy.
- Cái gì vậy? Ông Le Duc, ông đã làm gì vậy?
- Tốt đẹp cả. Sẽ không có gì tệ hại xảy ra đâu.
Tiếng nói của ông người Pháp run run vì xúc động.
- Trời đất ơi, ông Moire, có một con vật lớn kếch xù trong căn phòng. Nó đây này. Nó tựa vào ghế của tôi đây này. Cút đi! Cút đi!
Đó là tiếng nói của Harver Deacon; rồi thì chúng tôi nghe thấy một cái gì đó rơi trên một vật rắn. Rồi thì... Rồi thì... Biết nói thế nào với các bạn về những gì xảy ra! Một con vật kếch xù chạy xông lại chỗ chúng tôi trong bóng tối. Một con vật gì đó đứng chồm hai chân trước lên, nó dậm chân, nó nhảy, nó thở phì phì, nó có thể dẫm nát tất cả mọi thứ trên đường đi của nó. Chiếc bàn bay tung lên thành từng mảnh. Chúng tôi chạy tản mác ra mọi hướng. Con vật đó gầm lên một tiếng kinh hồn, xô đẩy chúng tôi, xông hết góc này tới góc khác của căn phòng với một sức mạnh tàn bạo. Tất cả chúng tôi gào lên vì hoảng sợ, chúng tôi quỳ rạp xuống bốn chân để cố né tránh sự tấn công của con vật đó. Tôi không rõ cái gì đó dẫm lên bàn tay tôi, tôi cảm thấy những đốt xương của tôi gãy rau ráu dưới sức nặng.
- Thắp đèn lên! Một người nào đó kêu.
- Ông Moire, ông có diêm đấy chứ? Diêm?
- Không, tôi không có diêm. Ông Deacon, diêm để ở đâu? Diêm, lạy chúa tôi!
- Tôi không thể tìm thấy chúng. Này, ông, ông người Pháp, hãy chặn nó lại!
- Điều này nằm ngoài quyền năng của tôi. Ôi, lạy chúa tôi, tôi không thể ngăn chặn được cái gì cả! Cửa ra vào! Cửa ra vào ở đâu?
Tình cờ tay tôi đụng phải nắm đấm của cửa ra vào trong khi tôi quờ quạng trong bóng tối. Con vật có hơi thở phì phò xông tới bên cạnh tôi và va đập vào bức vách gỗ với một tiếng động khủng khiếp. Tôi vặn nắm đấm và tất cả chúng tôi chạy ra ngoài, đóng cánh cửa lại phía sau chúng tôi. Ở bên trong sự ồn ào khủng khiếp cứ tiếp tục không ngừng.
- Con gì vậy? Lạy chúa tôi, con vật đó là con gì vậy?
- Một con ngựa. Tôi đã nhìn thấy nó khi cửa được mở ra. Nhưng còn bà De la mer?
- Chúng ta cần phải quay vào tìm bà ấy. Vào đi, Markham, chúng ta càng đợi lâu thì càng nguy hiểm.
Ông mở rộng cánh cửa và chúng tôi chạy xổ vào phòng làm việc. Bà De la Mer nằm lịm trên mặt đất giữa đống mảnh vụn của chiếc ghế của bà. Chúng tôi nắm lấy bà, nhanh chóng lôi bà ra ngoài. Sau khi đã bước tới ngưỡng cửa, tôi ngoái lại nhìn phía sau. Trong bóng tối hai con mắt kỳ lạ nảy lửa lên khi nhìn chúng tôi; tôi chỉ có đủ thì giờ đóng sập cửa lại. Phía bên kia tiếng động khủng khiếp vang lên, cánh cửa bị chẻ đôi từ trên xuống dưới.
- Nó sắp đi qua cửa! Nó đây này!
- Chạy đi! Chạy đi nếu quý vị còn muốn sống! Ông người Pháp la lớn.
Một tiếng động khủng khiếp khác vang lên trước khi một vật gì đó lao xuyên qua khe nứt của cánh cửa. Đó là một chiếc sừng trắng, dài, long lanh dưới ánh sáng. Trong chốc lát, con vật đứng ngay trước mặt chúng tôi, rồi với một tiếng động khô khan nó biến mắt.
- Mau lên! Mau lên! Lại đây! Harver Deacon kêu lên. Khiêng bà ấy lại đây! Mau lên!
Chúng tôi ẩn náu trong phòng ăn và đóng chặt cánh cửa nặng nề bằng gỗ sến lại phía sau chúng tôi. Chúng tôi đặt người đàn bà bất tỉnh nằm dài trên ghế tràng kỷ. Moire, con người của công việc có sức khoẻ bền bỉ, ngã gục ngất xỉu đi trên tấm thảm trải nhà. Harver Deacon, trắng bệch như một xác chết, co rúm lại và nhảy lên như một kẻ động kinh. Trong một tiếng đổ vỡ kinh hoàng, cánh cửa phòng làm việc bắn tung lên thành những mảnh vụn; chúng tôi nghe thấy tiếng dậm chân và tiếng hí ở hành lang, tiếng đi đi lại lại, căn nhà rung chuyển dưới cơn thịnh nộ đó. Ông người Pháp, hai tay ôm lây đầu, khóc nức nở như một đứa trẻ đang khiếp sợ.
- Ta phải làm gì? Tôi hỏi ông ta đồng thời lắc mạnh hai vai của ông. Trong trường hợp thế này, một khẩu súng có thể có ích không?
- Không! Nhưng quyền uy sẽ biến đi. Rồi sẽ hết.
- Ông là một người điên kỳ quái, suýt nữa ông đã giết chết tất cả chúng ta với những thử nghiệm ma quỷ của ông.
- Tôi không biết. Làm sao tôi có thể đoán trước được nó lại bị khiếp sợ như vậy? Nó đã điên cuồng vì kinh hoàng? Tất cả đều do lỗi của nó mà ra, nó đã đánh con vật ấy.
Harver Deacon nhảy cẫng người lên.
- Lạy chúa tôi!
Một tiếng gào lớn vang dội khắp căn nhà.
-... Đó là vợ tôi! Tôi đây này! Tôi ra đó! Dù ma quỷ hiện hình cũng không ngăn cản được tôi ra!
Ông mở cửa và chạy bổ ra hành lang. Ở chân cầu thang, bà Deacon nằm bất tỉnh, quá kinh khiếp vì những gì bà nhìn thấy. Nhưng ngoài ra không còn ai khác nữa. Với những con mắt đờ ra vì kinh hoàng, chúng tôi nhìn chung quanh, nhưng tất cả đều hoàn toàn yên tĩnh. Tôi đi tới gần ô vuông đen sì của khung cửa phòng làm việc; cứ từng bước một tôi chờ đợi nhìn thấy một bóng mờ kinh khủng vọt ra. Nhưng không có gì vọt ra cả. Phía trong căn phòng hoàn toàn yên tĩnh. Với sự đề phòng, chúng tôi tiên tới phía ngưỡng cửa, chúng tôi lục tìm trong bóng tối. Hoàn toàn yên lặng; nhưng trong một góc ngoài bóng tối còn có một vật gì khác nữa, một đám mây có ánh sáng màu đỏ nhạt với một tấm diềm sáng rực bập bềnh; các vành cạnh của nó lờ mờ không rõ rệt; hình thể của nó cứ mỏng dần và tan loãng; rồi thì ở tại góc đó chỉ còn có bóng tối dày đặc, êm mướt như nhung lan tràn khắp căn phòng. Khi tia sáng cuối cùng đã tắt, ông người Pháp thốt ra một tiếng kêu vui thích.
- Thích thú biết bao! Không ai bị nguy hại gì: chỉ có một cánh cửa bị phá huỷ và các bà bị sợ hãi. Nhưng các bạn ạ, chúng ta đã làm được điều từ trước tới nay chưa ai làm được bao giờ.
- Và trong quyền hạn của tôi, chúng ta sẽ không bao giờ tái diễn nó nữa, ông Harver Deacon nói.
Đó là những gì đã xảy ra ngày 14 tháng 4 tại số nhà 17 đường Badderly Gardens. Ở đoạn trên tôi đã nói thật là kệch cỡm khi ta cổ vũ cho những gì đã thực sự xảy ra. Nhưng tôi đã trình bày các cảm nghĩ của tôi, các cảm nghĩ của chúng tôi ( vì chúng tôi có những cảm nghĩ như vậy, Deacon, Moire và tôi), về những điều mà các cảm nghĩ ấy đáng được trình bày. Nếu các bạn muốn, các bạn có thể tưởng tượng rằng chúng tôi đã là những nạn nhân của một sự huyền hoặc phức tạp và dị thường. Hoặc các bạn cũng có thể nghĩ như chúng tôi rằng chúng tôi đã trải qua một kinh nghiệm rất thực tế và rất kinh khủng. Nhưng có thể là các bạn còn biết về vấn đề này nhiều hơn chúng tôi và liệu các bạn có thể thông báo cho chúng tôi rõ về những cuộc mạo hiểm tương tự không? Trong trường hợp này một lá thư gửi cho William Markham, Albany, sẽ giúp chúng tôi thấy rõ thêm những gì còn rất tối tăm đối với chúng tôi.
Tuy vậy đúng là có truyện gì đó đã xảy ra: một truyện quá lạ lùng khiến chúng tôi phải nhớ tới cho tới khi chết; câu chuyện này chắc chắn đáng tin cũng như có sự chứng nhận của năm người. Tôi sẽ không để mình bị lôi kéo vào những cuộc tranh luận hay những sự suy diễn. Tôi chỉ xin đưa ra một kiểu lời khai mà tôi đã đưa cho John Moire, cho Harver Deacon và bà De la Mer xem qua; tôi chỉ công bố lời khai này sau khi được họ công nhận từng chi tiết trong đó. Tôi buộc phải bỏ qua sự chấp nhận của Paul Le Duc vì ông đã rời khỏi nước Anh.
Chính John Moire, hội viên thứ nhất của công ty Moire, Moire và Sanderson là người đầu tiên đã lôi kéo sự chú ý của chúng tôi tới các vấn đề của khoa học huyền bí. Giống như nhiều thương gia rất cương quyết và thực tế, ông có một khía cạnh huyền bí, chính khía cạnh này đã đưa ông tới sự khảo sát và chấp nhận, khi có cơ hội, các hiện tượng huyền hoặc mà người ta đã gói ghém lại cùng với nhiều điều ngu xuẩn và giả trá dưới nhãn hiệu thông linh học. Ông đã bắt đầu các cuộc nghiên cứu với một tinh thần tự do, chẳng mấy chốc những nghiên cứu đó đã mang bộ mặt của các giáo điều; lúc đó ông cũng trở nên tích cực và cuồng tín như một người sùng đạo mù quáng. Trong nhóm người nhỏ bé của chúng tôi, ông tiêu biểu cho những người huyền bí đã tạo lập một tôn giáo mới dựa theo các hiện tượng lạ lùng này.
Bà De la mer, bà đồng của chúng tôi, là em gái ông và cũng là vợ của nhà điêu khắc De la mer. Kinh nghiệm đã cho chúng tôi thấy rằng đụng tới những vấn đề này mà không có người ngồi đồng thì chỉ uổng công, cũng như một nhà thiên văn muốn tiến hành quan sát mà lại không có kính viễn vọng vậy. Mặt khác không bào giờ chúng tôi muốn đưa vào nhóm chúng tôi một bà đồng chuyên nghiệp; các bà này rõ ràng chỉ cốt moi tiền chúng tôi nên mới làm việc đó và dễ quay ra lừa bịp; làm sao chúng tôi có thể tin được những hiện tượng được tạo ra với giá biểu một đồng bạc một giờ?
May mắn thay, Moire đã khám phá ra rằng cô em gái ông có khả năng lên đồng, nói theo cách khác bà ta là một cục pin của năng lượng nhân điện, hình thức năng lượng duy nhất khá tế nhị để có thể vận dụng hữu hiệu trên bình diện tinh thần cũng như trên bình diện vật chất của chúng ta. Tất nhiên khi nói đến điều này tôi tuyệt đối không có ý khẳng định những gì liên hệ tới vấn đề là xác thực: tôi chỉ nhắc tới các lý thuyết nhờ vào đó chúng tôi đã giải thích, có thể là sai mà cũng có thể là đúng, những điều chúng tôi đã nhìn thấy. Bà đồng này đã tới, tuy không hoàn toàn được ông chồng đồng ý. Dù không bao giờ bà cho ta có cảm tưởng bà có một sức mạnh rất lớn về tâm linh, chúng tôi vẫn thấy những kiểu thần giao cách cảm theo thói quen vừa ngây thơ ấu trĩ vừa không thể giải thích được. Chiều chủ nhật nào cũng vậy, chúng tôi gặp nhau tại phòng làm việc của Harver Deacon ở Bedderly Gardens trong căn nhà ở góc đường Merton Park. Đầu óc giàu tưởng tượng của Harver Deacon đã phung phí trong nghệ thuật của ông làm bất cứ ai nhìn thấy cũng phải coi ông là một tay chơi tài tử rất hăng say về tất cả những gì kỳ quái và dễ gây xúc động. Chắc chắn sự ngoạn mục trong việc nghiên cứu các khoa học huyền bí đã lôi cuốn ông lúc khởi đầu; nhưng rồi sự chú tâm của ông đã nhanh chóng chuyển sang một vài hiện tượng mà tôi vừa nói tới, và ông đã đi tới kết luận rằng những điều ông từng coi là một cuộc mạo hiểm lãng mạn để chơi đủa, như một sự giải trí trong lúc trà dư tửu hậu, thật ra là một sự thực rất đáng sợ. Vốn có bộ óc thông minh và duy lý nổi tiếng, trong cái thế giới nhỏ bé của chúng tôi ông là hình ảnh của một phần tử hay phê phán, một người không có thành kiến lúc nào cũng sẵn sàng theo dõi các sự việc đúng như ông nhìn thấy chúng và luôn khước từ việc đưa ra trước một lý thuyết về những thông tin của ông. Sự khôn ngoan của ông đi ngược lại ý của Moire, giống hệt như chuyện đức tin mạnh mẽ của ông này làm trò cười cho Deacon. Nhưng theo cách của họ, cả hai đều là những kẻ loạn trí.
Còn tôi? Tôi có thể tự coi mình là người thế nào đây? Tôi không phải là người mộ đạo. Tôi cũng không phải là một người phê bình theo lối khoa học. Cứ cho rằng tôi là một anh thị dân có tính tài tử, thích được thấy mình trong một trào lưu thời thượng, biết ơn tất cả những cảm xúc mới làm tôi say mê và mở cho tôi những hướng đi mới về đời sống. Bản thân tôi không phải là người có nhiệt huyết, nhưng tôi thích giao du với những người có nhiệt huyết. Những ý kiến của Moire cho tôi cảm tưởng chúng tôi đã có một giấy thông hành đặc biệt để mở cánh cửa của cõi chết, và làm tôi hoàn toàn mãn nguyện. Tôi thấy rất thoải mái với bầu không khí ấm cúng của buổi họp mặt dưới ánh sáng mờ ảo. Nói tóm lại, chuyện này làm tôi thích thú. Đó là lý do tại sao tôi đã có mặt tại đó ngày 14 - 4, để chứng kiến một cảnh rất kỳ lạ mà tôi sẽ thuật lại ngay bây giờ.
Trong số đàn ông thì tôi là người tới trước nhất, nhưng bà De la mer đã có mặt trong phòng làm việc của Deacon rồi, vì bà đã uống trà với bà Deacon. Hai bà và ông Deacon đang đứng trước một bức hoạchưa hoàn tất đặt trên giá. Tôi không phải là người sành sỏi về hội hoạ và không bao giờ dám nói là hiểu ý nghĩa các bức hoạ của Deacon. Tuy nhiên trong trường hợp nay, tôi thấy bức hoạ tuyệt đẹp, rất kỳ ảo, thấm đượm vẻ thần tiên, chứa đầy các loài vật và những hình ảnh tượng trưng đủ loại. Các bà ngợi khen ông hết lời, hiệu lực của màu sắc quả là tuyệt mỹ.
- Ông nghĩ thế nào, ông Markham? Ông ta hỏi tôi.
- Thú thật điều này vượt quá mức hiểu biết của tôi! Tôi đáp lại. Những con thú này... Đó là những con gì vậy?
- Những con quái vật trong thần thoại, những con vật tưởng tượng, các kiểu huy chương. Một đám rước kỳ dị, bí ẩn.
- Với một con ngựa trắng đi đầu!
- Đó không phải là một con ngựa!
Ông đã phản đối lại với một giọng nghiêm nghị, điều làm tôi kinh ngạc vì ông vốn có tính tình rất tốt và không bao giờ tỏ ra quá trang nghiêm.
- Vậy đó là cái gì?
- Ông không trông thấy cái sừng trên trán nó à? Đó là một con kỳ lân. Tôi đã nói với ông đó là những con thú tưởng tượng. Ông không thể nhận ra con nào cả sao?
- Tôi thấy thất vọng, ông Deacon ạ!
Có vẻ như ông đã bị xúc phạm dữ dội, nhưng ông bật cười lớn.
- Hãy tha thứ cho tôi, ông Markham ạ! Ông nói với tôi. Thật ra tôi đã làm một công việc điên rồ với con thú này. Suốt cả ngày tôi vẽ nó, vẽ đi vẽ lại, cố tưởng tượng xem nếu như có một con kỳ lân sống thì nó giống cái gì. Sau cùng tôi tin rằng tôi đã thành công. Ít nhất tôi cũng đã hy vọng vậy, nhưng khi ông không nhận ra nó, tôi thấy bị chạm tự ái dữ dội.
- Chắc chắn đó là một con kỳ lân! Tôi kêu lên với vẻ tin tưởng, vì tôi thấy ông bực bội bởi sự mù tịt của tôi. Tôi phân biệt rất rõ cái sừng, nhưng chưa bao giờ tôi nhìn thấy kỳ lân cả, ngoài những thứ được vẽ trên các huy hiệu hoàng gia, và tôi tuyệt đối không tin là có con thú này. Những con thú khác là những con quái vật đầu sư tử, những con mãng xà và rồng đủ loại, có phải thế không?
- Vâng, với những con này tôi không gặp một khó khăn nào. Chỉ có con kỳ lân này là làm cho tôi bực mình. Thôi, thế cũng tạm đủ cho tới ngày mai.
Ông quay lật bức hoạ lại ở trên giá và chúng tôi chuyển câu chuyện sang đề tài khác.
Chiều hôm đó ông Moire tới trễ. Chúng tôi ngạc nhiên khi thấy ông đi cùng một người Pháp thấp nhỏ và khoẻ mạnh, mà ông giới thiệu với chúng tôi dưới cái tên là Paul Le Duc. Tôi nói rằng chúng tôi ngạc nhiên, vì chúng tôi giữ quy luật là một sự xâm nhập vào nhóm thông linh học của chúng tôi sẽ làm xáo trộn tình thế và đưa vào một phần tử khả nghi.
Chúng tôi biết có thể tin cậy lẫn nhau, nhưng tất cả kết quả của chúng tôi sẽ có nguy cơ bị hoài nghi bởi sự hiện diện của một người ngoài cuộc. Tuy nhiên, ông Moire đã mau lẽ trấn an chúng tôi. Ông Paul Le Duc là một môn đồ danh tiếng của khoa thần bí học. Ông du lịch tới nước Anh mang theo một thư giới thiệu của ông chủ tịch hội Huynh đệ những người dân Paris của giáo phái Rose-Croix gửi cho ông Moire. Như vậy thật hoàn toàn bình thường khi ông được mời tới dự cuộc ngồi đồng của chúng tôi; chúng tôi còn thấy vinh dự về sự có mặt của ông.
Như tôi đã nói, ông ta nhỏ bé và khoẻ mạnh, nom bề ngoài không có gì đặc biệt. Trên khuôn mặt lớn được cạo nhẵn của ông chỉ có đôi mắt to màu nâu là đáng kể mà thôi. Ông ăn mặc lịch sự, có điệu bộ của một người thượng lưu và nói tiếng Anh bằng một giọng khiến các bà tủm tỉm cười. Bà Deacon vốn không muốn tắt bớt đèn đi như thường lệ và chúng tôi kéo nhích ghế lại gần chiếc bàn vuông bằng gỗ bạch đàn được kê ở giữa phòng. Ánh sáng yếu ớt nhưng cũng đủ để chúng tôi nhìn thấy nhau rất rõ ràng. Tôi nhớ là tôi còn có thể nhìn thấy rõ ông người Pháp có hai bàn tay nhỏ nhắn mũm mĩm với những ngón tay vuông.
- Thật vui nhỉ! Ông nói với chúng tôi. Đã từ nhiều năm nay tôi không ngồi dự theo lối này, tuy nhiên tôi rất thích việc này. Bà là bà đồng đúng không? Có phải bà hành nghề lên đồng không?
- Không hoàn toàn đúng, bà De la mer đáp lại. Nhưng bao giờ tôi cũng cảm thấy một sự chập chờn nửa thức nửa ngủ.
- Đó là giai đoạn đầu. Chỉ cần thúc đẩy thêm là nó tới chỗ đồng nhập. Khi đồng nhập rồi thì linh hồn bé nhỏ của bà bay đi và một linh hồn khác tới thế chỗ của nó, do đó mà bà đã có giọng nói và tuồng chữ tự động phát sinh. Bà đã để cho người khác nằm quyền điểu khiển cơ thể của bà, phải vậy không? Nhưng những con kỳ lân thì có gì dính líu tới chúng ta?
Harver Deacon giật nảy người lên. Ông người Pháp từ từ quay đầu lại và chăm chú nhìn vão những bức màn tối sẫm che phủ các bức tường.
- Nom có vẻ ngồ ngộ! Ông ta lẩm bẩm. Luôn luôn là những con kỳ lân. Ai đã nghĩ tới một đề tài kỳ cục như vậy với một cường độ mạnh như thế?
- Thật là kỳ diệu! Deacon kêu lên. Suốt cả ngày tôi đã cố sức vẽ ra một con. Tại sao ông lại biết được?
- Ông đã nghĩ tới những con kỳ lân trong căn phòng này à?
- Chắc chắn là thế!
- Những tư tưởng là vật thể đó ông bạn ạ! Khi ông tưởng tượng tới một vật gì là ông đã tạo ra vật đó. Ông không biết như thế à? Nhưng tôi có thể nhìn thấy những con kỳ lân của ông và không phải chỉ có thể nhìn bằng mắt thôi đâu.
- Có phải ông muốn nói rằng tôi đã tạo ra một vật chưa bao giờ có thật cả chỉ bằng cách nghĩ đến nó thôi à?
- Rõ ràng là thế. Đó là một sự kiện nằm trong tất cả mọi sự kiện khắc. Đó là lý do tại sao một ý nghĩ xấu cũng là một sự nguy hiểm.
- Tôi lại nghĩ đó là trên bình diện siêu nhiên chứ? Ông Moire hỏi lại.
- À, đó chỉ là những từ thôi, ông bạn ạ! Những con vật đó ở kia kìa, tại một nơi nào đó, tại khắp mọi nơi, tôi không thể nói rõ được. Tôi nhìn thấy chúng. Tôi có thể sờ mó vào chúng.
- Ông không thể làm cho chúng tôi nhìn thấy chúng được à?
- Chỉ cần làm cho chúng trở thành hiện thực. Xin các ông chú ý lắng nghe, đây sẽ là cuộc thí nghiệm. Nhưng cần phải có quyền uy. Trước hết hãy đo lường quyền uy mà chúng ta có được, sau đó chúng ta sẽ thấy chúng ta có thể làm gì. Các vị có thể cho phép tôi được xếp cho ngồi cho quý vị theo ý muốn của tôi không?
- Chắc chắn ông là người thành thạo hơn chúng tôi, Deacon trả lời. Tôi mong rằng ông sẽ điều khiển mọi việc.
- Có thể các điều kiện không được hoàn hảo nhưng chúng ta sẽ làm những gì có thể làm. Xin bà cứ ngồi yên tại chỗ cũ, tôi sẽ ngồi cạnh bà ấy và quý ông đây sẽ ngồi bên tôi. Ông Moire sẽ ngồi cạnh bà, vì sự xen kẽ giữa màu nâu và vàng nâu là rất tốt. Vậy là được rồi. Và bây giờ xin quý vị cho phép tôi tắt hết đèn đi.
- Bóng tối thì có lợi ích gì? Tôi hỏi.
- Xung lực mà chúng ta liên hệ tới là một sự rung động của ête, giống hệt như ánh sáng vậy.Bây giờ chúng ta có những sợi dây liên lạc đặc biệt riêng của chúng ta, các vị hiểu không? Thưa bà, bà sẽ không thấy sợ hãi trong bóng tối chứ? Một buổi lên đồng như thế này thật rất vui!
Mới đầu chúng tôi thấy hoàn toàn tối mịt; nhưng sau một vài phút mắt chúng tôi quen dần với bóng tối: chúng tôi có thể nhận ra bóng của chúng tôi một cách rất mơ hồ và rất lộn xộn, tôi phải thừa nhận như vậy. Tôi không thể nhìn thấy những đồ vật khác trong phòng làm việc. Cả bọn chúng tôi đều trang nghiêm hơn rất nhiều so với những lần trước.
- Xin quý vị hãy đặt bàn tay ra trước mặt quý vị. Chúng ta không có cơ hội nào để đụng chạm vào nhau vì chúng ta quá ít người quanh một chiếc bàn kích thước lớn như vậy. Thưa bà, xin bà hãy chuẩn bị. Nếu cơn buồn ngủ kéo tới xin bà đừng cưỡng lại. Còn bây giờ chúng ta hãy ngồi yên lặng và chờ đợi.
Vậy là chúng tôi đều ngồi yên lặng chờ đợi trong khi phải nhìn xoi mói vào bóng tối trước mặt mình. Ngoài hành lang, tiếng đồng hồ kêu tích tắc. Xa xa một con chó sủa lên từng hồi. Hai hay ba lần có tiếng xe ngựa chạy lạo xạo ngoài phố, ánh sáng chập chờn từ những ngọn đèn của chúng lọt qua kẽ mành đã tạo nên một vài khoảng ấm cúng trong buổi thức thâu đêm của chúng tôi. Tôi cảm thấy các triệu chứng về thể xác đã trở thành quen thuộc qua các buổi lên đồng trước đây: đôi bàn chân giá buốt, bàn tay như bị kiến bò, một cảm giác ấm áp dịu dàng ở lòng bàn tay và một luồng gió lạnh lẽo trên lưng, những cơn đau nhức nhỏ, kỳ lạ nhất là ở hai cánh tay (đặc biệt là ở cánh tay trái, cánh tay gần vị khách của chúng tôi nhất). Những cảm giác này chắc chắn là do sự lộn xộn của hệ thống thần kinh mạch, nhưng dù sao cũng đáng lưu ý. Đồng thời tôi cảm thấy một cảm giác căng thẳng của sự nôn nóng chờ đợi, một cảm giác gần như đau đớn vậy. Cứ xét qua sự im lặng nghiêm ngặt tuyệt đối của các bạn tôi thì đủ biết họ cũng có các dây thần kinh căng thẳng như tôi.
Rồi đột nhiên một tiếng động nổi lên từ bóng tối: một tiếng rít trầm trầm. Đó là tiếng thở nhanh và nhẹ của một người đàn bà, càng lúc càng nhanh hơn, càng lúc càng nhẹ hơn, như thể hơi thở lọt qua hai hàm rằng nghiến chặt; rồi chúng tôi nghe thấy một tiếng nấc cụt khá mạnh, kèm theo một tiếng sột soạt của vải.
- Cái gì vậy? Có bình thường không? Một người hỏi trong bóng tối.
- Hoàn toàn bình thường, ông người Pháp trả lời. Đó là tiếng thở của bà ấy. Bà ấy đã nhập đồng. Thưa quý vị, bây giờ nếu quý vị vui lòng chờ đợi một cách bình thản, quý vị sẽ thấy một vật mà tôi tin sẽ làm quý vị vô cùng thích thú.
Vẫn còn tiếng tích tắc ngoài hành lang. Vẫn còn hơi thở, nhưng lúc này sâu hơn, dài hơn, của bà đồng. Vẫn còn những tia sáng chập chờn của những ngọn đèn xe ngựa, nhìn thấy rõ hơn bao giờ hết. Chúng tôi đang lấp đầy một cái vực thẳm gớm ghê ! Ở một bên là bức màn của sự vĩnh hằng đã hé lên một nửa, bên kia là những xe cộ của thành phố London. Chiếc bàn rung lên một nhịp thở mạnh mẽ. Nó lắc lư một cách đều đặn, nhịp nhàng, nó tự nâng lên, hạ xuống một cách nhẹ nhàng bên trong những thớ gỗ của nó; ta có thể nói đó là tiếng một bó củi đang nổ lách tách trong lò sưởi vào một đêm đông.
- Có rất nhiều quyền uy! Ông người Pháp lẩm bẩm. Các vị hãy nhìn trên bàn kìa!...
Tôi đã tưởng tôi là một kẻ làm trò cười cho ảo giác của riêng mình, nhưng tất cả mọi người đều nhìn thấy một thứ như tôi. Một thứ ánh sáng lân tinh màu vàng hơi xanh nhạt (có lẽ tôi nên gọi là một thứ hơi nước có ánh sáng hơn là một thứ ánh sáng!) trụ lại trên mặt bàn. Nó lăn đi, uốn éo, xoắn lại thành những nếp lập loè mờ ảo xoay quanh và tự xoay tròn như những đám mây khói. Qua ánh sáng kỳ diệu đó tôi có thể nhìn thấy hai bàn tay trắng trẻo và những ngón tay vuông của ông người Pháp.
- Tuyệt diệu! Ông ta kêu lên. Thật là thích thú.
- Ta có nên đòi các mẫu tự không? Ông Moire hỏi.
- Không! Chúng ta có thể đạt được những điều tốt hơn nhiều. Vị khách của chúng tôi đáp. Làm cho cái bàn lúc lắc ở mỗi chữ trong bảng chữ cái chỉ là trò trẻ con; với một bà đồng như quý bà đây, chúng ta phải làm được hơn thế.
- Vâng, các vị sẽ làm được nhiều hơn, một tiếng nói cất lên.
- Ai nói vậy? Có phải ông đấy không, ông Markham?
- Không, không phải tôi nói.
- Đó là bà đây đã nói.
- Nhưng không phải tiếng của bà ấy.
- Có phải bà không, thưa bà De la mer?
- Không phải là bà đồng đâu nhưng đó là quyền uy đã sử dụng cơ thể của bà đồng, tiếng nói trầm trầm xa lạ đáp lại.
- Bà De la mer đâu rồi? Tôi hy vọng rằng điều này sẽ không làm gì hại tới bà phải không?
- Bà đồng rất sung sướng trong một bình diện khác của đời sống. Bà đã ngồi vào chỗ của tôi, cũng như tôi đã ngồi vào chỗ của bà.
- Ông là ai?
- Điều đó không có gì quan trọng với ngài. Tôi là một người đã từng sống cũng như ông đang sống bây giờ và đã chết cũng như ông sẽ chết một ngày nào đó.
Chúng tôi nghe thấy tiếng ken két của bánh xe ngựa dừng lại trước cửa một ngôi nhà bên cạnh. Bên ngoài, người ta đang cãi nhau về giá cả chuyến xe, và vừa đánh xe đi bác đánh xe vừa càu nhàu một câu tục tĩu. Đám mây màu vàng xanh vẫn còn xoay tròn trên mặt chiếc bàn, lờ đờ trên toàn bộ bề mặt của nó, trừ một tia sáng yếu ớt; như thể nó dồn cả vào trước mặt bà đồng. Tim tôi như đóng băng vì lạnh và sợ hãi. Hình như chúng tôi đã khinh suất và dại dột đi tới gần sự thiêng liêng thực tại nhất và cao cả nhất; sự cảm thông với những người chết mà các cha của Giáo hội đã nói tới.
- Các ông không thấy rằng chúng ta đã đi quá xa à? Có lẽ chúng ta phải cắt đứt buổi lên đồng này đi thôi. Tôi kêu lên.
Nhưng những người khác rất muốn được coi tới phút chót. Sự áy náy của tôi làm họ bật cười.
- Tất cả mọi quyền uy đều được tạo ra cho người ta sử dụng, Harver Deacon trả lời tôi. Nếu chúng ta có thể sử dụng được thì chúng ta phải sử dụng. Tất cả những điểm xuất phát mới của tri thức đều đã bị coi là bất hợp pháp vào lúc khởi đầu. Đó là một điều đúng và hợp lý khi chúng ta tìm hiểu về bản chất của cái chết.
- Đó là đúng và hợp lý, tiếng nói tiếp lời.
- Đó! Ông còn muốn đòi hỏi gì hơn nữa? Ông Moire kêu lên, vẻ rất xúc động. Ta hãy làm một trắc nghiệm. Ông có vui lòng cho chúng tôi một bằng chứng rằng ông thật sự có mặt ở nơi đây không?
- Ông muốn thử nghiệm như thế nào?
- Đây này... Tôi có một ít tiền lẻ trong túi. Ông có thể nói cho tôi biết là bao nhiêu không?
- Chúng tôi tới đây với hy vọng là để giáo dục và giác ngộ, chứ không phải để giải đáp những câu đố trẻ con.
- A, ông Moire ơi, đó lả ông đã bị chỉnh rồi đó. Ông người Pháp kêu lên. Nhưng lời chỉ trích hoàn toàn đúng.
- Đây là một tôn giáo chứ không phải là một trò chơi, tiếng nói lạnh lùng và cứng rắn lại cất lên.
- Đúng thế. Tôi cũng có ý kiến như vậy. Ông Moire nói lớn. Tôi rất tiếc đã đặt ra một câu hỏi như vậy. Ông không thể vui lòng cho chúng tôi biết ông là ai à?
- Việc đó có liên quan gì tới ông?
- Chắc ông phải là một hồn ma từ lâu lắm rồi phải không?
- Vâng.
- Bao lâu rồi?
- Chúng tôi không tính thời gian như các ông. Hoàn cảnh đời sống của chúng tôi khác hẳn.
- Ông có sung sướng không?
- Có.
- Chắc ông không muốn trở lại trái đất nữa?
- Không. Chắc chắn là không.
- Ông có bận rộn lắm không?
- Chúng tôi sẽ không thể sung sướng được nếu chúng tôi không rất bận rộn.
- Ông làm việc gì?
- Tôi đã nói rằng hoàn cảnh của chúng tôi hoàn toàn khác biệt mà.
- Ông có thể cho chúng tôi một ý niệm về công việc của ông không?
- Chúng tôi làm việc cho sự tiến bộ của chính chúng tôi, cho sự thăng tiến của những người khác.
- Ông có thích tới đây chiều hôm nay không?
- Tôi thấy sung sướng được tới nếu sự tới thăm của tôi có thể làm được điều thiện.
- Vậy thì mục đích của ông là làm điều thiện à?
- Đó là mục đích của đời sống trên mọi bình diện.
- Ông Markham, ông thấy đó; đây là câu trả lời cho sự áy náy của ông.
- Đúng thật vậy. Những mối nghi ngờ của tôi đã tan biến: tôi đã thích thú một cách kỳ diệu.
- Ông có gặp những sự đau đớn trong cuộc sống của ông không? Tôi hỏi.
- Không. Sự đau đớn là một việc của thể xác.
- Ông có những điều đau khổ vè tinh thần không?
- Có. Bao giờ người ta cũng có thể buồn rầu hoặc lo lắng.
- Ông có gặp những bạn hữu mà ông đã bỏ lại trên trái đất không?
- Một vài người.
- Tại sao lại chỉ có một vài người?
- Chỉ gặp những người nào có cảm tình thôi.
- Những người chồng có gặp lại vợ họ không?
- Những ngưởi nào yêu họ một cách chân thực.
- Còn những người khác?
- Họ chẳng là cái gì đối với nhau cả.
- Liệu có một sợi dây liên hệ tinh thần không?
- Chắc chắn là có!
- Những điều chúng tôi làm có tốt không?
- Nếu các ngài làm điều đó với tinh thần thiện hảo.
- Vậy cái gì gọi là tinh thần xấu xa?
- Sự tò mò và sự khinh xuất.
- Như vậy có thể đưa tới điều gì tai hại không?
- Rất nhiều điều tai hại.
- Tai hại như thế nào?
- Các ông có thể làm nảy sinh những sức mạnh mà các ông không thể chế ngự được.
- Những sức mạnh tồi tệ à?
- Những sức mạnh không được khai hoá.
- Ông nói rằng chúng rất nguy hiểm. Nguy hiểm cho thể xác hay cho linh hồn?
- Đôi khi cho cả hai.
Một sự im lặng bao trùm. Bóng tối hình như sẫm hơn, trong khi đám sương mù màu xanh quay cuồng trên mặt bàn.
- Ông có muốn đưa ra câu hỏi nào nữa không, ông Moire? Harver Deacon hỏi.
- Một câu thôi: Trong thế giới của ông, ông có cầu nguyện không?
- Người ta phải cầu nguyện trong mọi thế giới.
- Tại sao vậy?
- Bởi vì đó là cách để biết những sức mạnh ở bên ngoài chúng ta.
- Ở đó các ông theo tôn giáo nào?
- Chúng tôi theo nhiều tôn giáo, giống như các vị vậy.
- Ông không có sự hiểu biết chắc chắn?
- Chúng tôi chỉ có đức tin thôi.
- Những vấn đề tôn giáo này sẽ được sự quan tâm của người Anh là những người trang nghiêm, nhưng chúng tôi không phải là thứ giải trí đâu. Tôi thấy rằng với quyền uy hiện hữu ở đây, ta có thể đạt được lợi ích từ một kinh nghiệm lớn, phải không? Về một điều gì đó mà ta có thể nói.
- Nhưng không có gì thích thú hơn điều đó! Moire chống lại.
- Nếu ông nghĩ được như vậy, được rồi, rất tốt. Ông người Pháp đáp lại với giọng bực bội. Về phần tôi, trước đây tôi đã nghe điều đó rồi và tôi tưởng chiều nay ta nên thử làm một việc khác, nhờ tất cả những quyền uy mà chúng ta được ban cho. Nhưng nếu ông có những câu hỏi khác, xin ông cứ đưa ra đi. Khi nào ông hỏi xong, chúng ta sẽ thử làm chuyện khác.
Hỡi ôi, sự say mê đã bị đứt đoạn. Chúng tôi hỏi, hỏi mãi mà không có kết quả: bà đồng ngồi yên lặng trên ghế. Chỉ có nhịp thở sâu, đều đặn của bà chứng tỏ bà còn ngồi ở đó. Đám sương mù vẫn còn quay tròn trên mặt bàn.
- Ông đã huỷ diệt sự hoà điệu. Bà ấy không muốn trả lời.
- Nhưng chúng ta đã biết được tất cả những gì bà có thể nói với chúng ta, phải không? Về phần tôi, tôi muốn thấy một cái gì đó mà chưa bao giờ tôi được thấy.
- Cái gì vậy?
- Ông có vui lòng để tôi thử làm không?
- Ông muốn làm điều gì?
- Tôi đã nói với ông rằng những ý nghĩ là những sự việc, những vật thể. Bây giờ tôi muốn chứng tỏ điều đó với ông và chỉ cho ông thấy cái vật vốn chỉ là một ý nghĩ. Vâng, tôi có thể làm việc đó và các vị sẽ thấy. Bây giờ tôi xin các vị hãy giữ im lặng, không nói gì cả và cứ đặt bàn tay của quý vị lên mặt bàn.
Căn phòng càng tối tăm hơn, lặng lẽ hơn bao giờ hết. Cũng cái cảm giác lo sợ ấy đã đè nặng lên tôi lúc bắt đầu buổi lên đồng lúc này lại dằn vặt trái tim tôi. Tôi thấy rờn rợn ở các chân tóc như có kiến bò.
- Được rồi đó! Ông người Pháp nói lớn.
Đám sương mù có ánh sáng từ từ rời xa chiếc bàn; nó vẫn bay chập chờn uốn éo trong phòng làm việc. Nó bay tới một góc tối tăm nhát, nơi đó nó tụ lại và phát ra một tia sáng, rồi thì nó đông đặc lại thành một cái nhân sáng và rõ ràng thành một vệt tia sáng đang tìm đường lẩn trốn, không soi sáng và không phát các tia sáng vào bóng tối, màu sắc của nó chuyển từ màu vàng xanh nhạt sang một màu đỏ lờ đờ hơi nâu đen nhạt. Chung quanh cái nhân này, một chất tối sẫm, mờ mờ như khói cuốn thành vòng và cứ dày đặc mãi lên, mỗi lúc một đặc thêm và đen kịt. Rồi ánh sáng tắt ngúm, như bị bóp nghẹt bởi cái vật mà nó bao quanh.
- Hắn đi rồi.
- Suỵt! Có một vật gì đó trong căn phòng.
Cái vật đó, chúng tôi nghe thấy nó ở góc phòng mà ánh sáng đã chuyển tới. Một vật gì thở phì phò và cựa quậy.
- Cái gì vậy? Ông Le Duc, ông đã làm gì vậy?
- Tốt đẹp cả. Sẽ không có gì tệ hại xảy ra đâu.
Tiếng nói của ông người Pháp run run vì xúc động.
- Trời đất ơi, ông Moire, có một con vật lớn kếch xù trong căn phòng. Nó đây này. Nó tựa vào ghế của tôi đây này. Cút đi! Cút đi!
Đó là tiếng nói của Harver Deacon; rồi thì chúng tôi nghe thấy một cái gì đó rơi trên một vật rắn. Rồi thì... Rồi thì... Biết nói thế nào với các bạn về những gì xảy ra! Một con vật kếch xù chạy xông lại chỗ chúng tôi trong bóng tối. Một con vật gì đó đứng chồm hai chân trước lên, nó dậm chân, nó nhảy, nó thở phì phì, nó có thể dẫm nát tất cả mọi thứ trên đường đi của nó. Chiếc bàn bay tung lên thành từng mảnh. Chúng tôi chạy tản mác ra mọi hướng. Con vật đó gầm lên một tiếng kinh hồn, xô đẩy chúng tôi, xông hết góc này tới góc khác của căn phòng với một sức mạnh tàn bạo. Tất cả chúng tôi gào lên vì hoảng sợ, chúng tôi quỳ rạp xuống bốn chân để cố né tránh sự tấn công của con vật đó. Tôi không rõ cái gì đó dẫm lên bàn tay tôi, tôi cảm thấy những đốt xương của tôi gãy rau ráu dưới sức nặng.
- Thắp đèn lên! Một người nào đó kêu.
- Ông Moire, ông có diêm đấy chứ? Diêm?
- Không, tôi không có diêm. Ông Deacon, diêm để ở đâu? Diêm, lạy chúa tôi!
- Tôi không thể tìm thấy chúng. Này, ông, ông người Pháp, hãy chặn nó lại!
- Điều này nằm ngoài quyền năng của tôi. Ôi, lạy chúa tôi, tôi không thể ngăn chặn được cái gì cả! Cửa ra vào! Cửa ra vào ở đâu?
Tình cờ tay tôi đụng phải nắm đấm của cửa ra vào trong khi tôi quờ quạng trong bóng tối. Con vật có hơi thở phì phò xông tới bên cạnh tôi và va đập vào bức vách gỗ với một tiếng động khủng khiếp. Tôi vặn nắm đấm và tất cả chúng tôi chạy ra ngoài, đóng cánh cửa lại phía sau chúng tôi. Ở bên trong sự ồn ào khủng khiếp cứ tiếp tục không ngừng.
- Con gì vậy? Lạy chúa tôi, con vật đó là con gì vậy?
- Một con ngựa. Tôi đã nhìn thấy nó khi cửa được mở ra. Nhưng còn bà De la mer?
- Chúng ta cần phải quay vào tìm bà ấy. Vào đi, Markham, chúng ta càng đợi lâu thì càng nguy hiểm.
Ông mở rộng cánh cửa và chúng tôi chạy xổ vào phòng làm việc. Bà De la Mer nằm lịm trên mặt đất giữa đống mảnh vụn của chiếc ghế của bà. Chúng tôi nắm lấy bà, nhanh chóng lôi bà ra ngoài. Sau khi đã bước tới ngưỡng cửa, tôi ngoái lại nhìn phía sau. Trong bóng tối hai con mắt kỳ lạ nảy lửa lên khi nhìn chúng tôi; tôi chỉ có đủ thì giờ đóng sập cửa lại. Phía bên kia tiếng động khủng khiếp vang lên, cánh cửa bị chẻ đôi từ trên xuống dưới.
- Nó sắp đi qua cửa! Nó đây này!
- Chạy đi! Chạy đi nếu quý vị còn muốn sống! Ông người Pháp la lớn.
Một tiếng động khủng khiếp khác vang lên trước khi một vật gì đó lao xuyên qua khe nứt của cánh cửa. Đó là một chiếc sừng trắng, dài, long lanh dưới ánh sáng. Trong chốc lát, con vật đứng ngay trước mặt chúng tôi, rồi với một tiếng động khô khan nó biến mắt.
- Mau lên! Mau lên! Lại đây! Harver Deacon kêu lên. Khiêng bà ấy lại đây! Mau lên!
Chúng tôi ẩn náu trong phòng ăn và đóng chặt cánh cửa nặng nề bằng gỗ sến lại phía sau chúng tôi. Chúng tôi đặt người đàn bà bất tỉnh nằm dài trên ghế tràng kỷ. Moire, con người của công việc có sức khoẻ bền bỉ, ngã gục ngất xỉu đi trên tấm thảm trải nhà. Harver Deacon, trắng bệch như một xác chết, co rúm lại và nhảy lên như một kẻ động kinh. Trong một tiếng đổ vỡ kinh hoàng, cánh cửa phòng làm việc bắn tung lên thành những mảnh vụn; chúng tôi nghe thấy tiếng dậm chân và tiếng hí ở hành lang, tiếng đi đi lại lại, căn nhà rung chuyển dưới cơn thịnh nộ đó. Ông người Pháp, hai tay ôm lây đầu, khóc nức nở như một đứa trẻ đang khiếp sợ.
- Ta phải làm gì? Tôi hỏi ông ta đồng thời lắc mạnh hai vai của ông. Trong trường hợp thế này, một khẩu súng có thể có ích không?
- Không! Nhưng quyền uy sẽ biến đi. Rồi sẽ hết.
- Ông là một người điên kỳ quái, suýt nữa ông đã giết chết tất cả chúng ta với những thử nghiệm ma quỷ của ông.
- Tôi không biết. Làm sao tôi có thể đoán trước được nó lại bị khiếp sợ như vậy? Nó đã điên cuồng vì kinh hoàng? Tất cả đều do lỗi của nó mà ra, nó đã đánh con vật ấy.
Harver Deacon nhảy cẫng người lên.
- Lạy chúa tôi!
Một tiếng gào lớn vang dội khắp căn nhà.
-... Đó là vợ tôi! Tôi đây này! Tôi ra đó! Dù ma quỷ hiện hình cũng không ngăn cản được tôi ra!
Ông mở cửa và chạy bổ ra hành lang. Ở chân cầu thang, bà Deacon nằm bất tỉnh, quá kinh khiếp vì những gì bà nhìn thấy. Nhưng ngoài ra không còn ai khác nữa. Với những con mắt đờ ra vì kinh hoàng, chúng tôi nhìn chung quanh, nhưng tất cả đều hoàn toàn yên tĩnh. Tôi đi tới gần ô vuông đen sì của khung cửa phòng làm việc; cứ từng bước một tôi chờ đợi nhìn thấy một bóng mờ kinh khủng vọt ra. Nhưng không có gì vọt ra cả. Phía trong căn phòng hoàn toàn yên tĩnh. Với sự đề phòng, chúng tôi tiên tới phía ngưỡng cửa, chúng tôi lục tìm trong bóng tối. Hoàn toàn yên lặng; nhưng trong một góc ngoài bóng tối còn có một vật gì khác nữa, một đám mây có ánh sáng màu đỏ nhạt với một tấm diềm sáng rực bập bềnh; các vành cạnh của nó lờ mờ không rõ rệt; hình thể của nó cứ mỏng dần và tan loãng; rồi thì ở tại góc đó chỉ còn có bóng tối dày đặc, êm mướt như nhung lan tràn khắp căn phòng. Khi tia sáng cuối cùng đã tắt, ông người Pháp thốt ra một tiếng kêu vui thích.
- Thích thú biết bao! Không ai bị nguy hại gì: chỉ có một cánh cửa bị phá huỷ và các bà bị sợ hãi. Nhưng các bạn ạ, chúng ta đã làm được điều từ trước tới nay chưa ai làm được bao giờ.
- Và trong quyền hạn của tôi, chúng ta sẽ không bao giờ tái diễn nó nữa, ông Harver Deacon nói.
Đó là những gì đã xảy ra ngày 14 tháng 4 tại số nhà 17 đường Badderly Gardens. Ở đoạn trên tôi đã nói thật là kệch cỡm khi ta cổ vũ cho những gì đã thực sự xảy ra. Nhưng tôi đã trình bày các cảm nghĩ của tôi, các cảm nghĩ của chúng tôi ( vì chúng tôi có những cảm nghĩ như vậy, Deacon, Moire và tôi), về những điều mà các cảm nghĩ ấy đáng được trình bày. Nếu các bạn muốn, các bạn có thể tưởng tượng rằng chúng tôi đã là những nạn nhân của một sự huyền hoặc phức tạp và dị thường. Hoặc các bạn cũng có thể nghĩ như chúng tôi rằng chúng tôi đã trải qua một kinh nghiệm rất thực tế và rất kinh khủng. Nhưng có thể là các bạn còn biết về vấn đề này nhiều hơn chúng tôi và liệu các bạn có thể thông báo cho chúng tôi rõ về những cuộc mạo hiểm tương tự không? Trong trường hợp này một lá thư gửi cho William Markham, Albany, sẽ giúp chúng tôi thấy rõ thêm những gì còn rất tối tăm đối với chúng tôi.
Arthur Conan Doyle
(sưu tầm)
(sưu tầm)
Chuột Và Mèo
Đời xưa, chuột vốn là một giống linh thiêng ở trên Trời. Trời giao cho nó giữ chìa khóa kho lúa của Trời.
Nhưng chuột không phải là một loài đang tin cẩn, nhận được giữ chìa khóa, cứ tự do đến mở kho rủ nhau vào ăn rả rích hết bao nhiêu là lúạ.
Sau Trời biết, lấy làm giận lắm, mới không cho ở trên ấy nữa, mà đuổi xuống dưới hạ giới để săn giữ chìa khóa lẫn thóc của nhân gian.
Nhưng chứng nào tật ấy, chuột lại rủ nhau vào kho thóc của người rả rích ăn. Đến nỗi người phải có câu than rằng:
"Chuột kia xưa ở nơi nào?
Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này?"
Người lấy làm chua xót, mới kêu với vua Bếp. Vua Bếp liền bắt nó đem lên trả Trời và tâu rằng:
- Chuột này vốn chuột của Thiên Đình, sao Thiên Đình lại thả nó xuống hạ giới?
Trời nói:
- Ừ, trước nó ở trên này giữ chìa khoá kho thóc cho ta. Nhưng bởi nó ăn vụng lúa của ta nhiều lắm nên ta không cho nó ở trên này, ta đuổi nó xuống hạ giới cho nó giữ lúa ở dưới ấỵ.
Vua Bếp tâu:
- Nó xuống dưới ấy nó lại ăn vụng lúa hại lắm. Bẩm, chúng con thiết nghĩ: lúa của Trời nhiều, lúa của người ít, của Trời nó ăn không hết chớ của người nó cứ ăn mãi, thì có ngày hết cả, người đến chết đói mất. Vậy xin bây giờ lại cho nó lên trên Trời là phảị.
Trời nghe tâu phán rằng:
- Không được. Ta đã đuổi nó đi cho xa, ta không thể cho nó lại lên đây nữạ Thôi bây giờ có một cách: Ta có một con mèo, ta cho chú đem xuống hạ giới để khi nào chuột nó ăn lúa của nhân gian thì thả mèo ra cho nó bắt chuột, rồi gầm gừ ăn chuột đi, còn khi nào nó không muốn bắt chuột, thì chú bảo con mèo cứ kêu với con chuột rằng: "Nghèo, nghèo, nghèo", thì chuột nó cũng sợ mà nó phải bỏ đi.
Vua Bếp lạy tạ, rồi lại đem chuột va đem cả mèo xuống hạ giớị Rồi cứ theo như lời dậy mà làm.
Thành tự bấy giờ khi nào mèo rình bắt được chuột, rồi mèo cứ "gầm gừ, gầm gừ" và khi nào không bắt được chuột thì mèo ngồi kêu:"nghèo, nghèo, nghèo, nghèo"...
Nhưng lúc ấy, mèo hồi nghĩ lại, mới lấy làm giận vua Bếp, vì tại vua Bếp mèo mới phải xuống dương gian. Nhưng không làm gì nổi vua Bếp, mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro bếp để phóng uế.
Nhưng chuột không phải là một loài đang tin cẩn, nhận được giữ chìa khóa, cứ tự do đến mở kho rủ nhau vào ăn rả rích hết bao nhiêu là lúạ.
Sau Trời biết, lấy làm giận lắm, mới không cho ở trên ấy nữa, mà đuổi xuống dưới hạ giới để săn giữ chìa khóa lẫn thóc của nhân gian.
Nhưng chứng nào tật ấy, chuột lại rủ nhau vào kho thóc của người rả rích ăn. Đến nỗi người phải có câu than rằng:
"Chuột kia xưa ở nơi nào?
Bây giờ ăn lúa nhà tao thế này?"
Người lấy làm chua xót, mới kêu với vua Bếp. Vua Bếp liền bắt nó đem lên trả Trời và tâu rằng:
- Chuột này vốn chuột của Thiên Đình, sao Thiên Đình lại thả nó xuống hạ giới?
Trời nói:
- Ừ, trước nó ở trên này giữ chìa khoá kho thóc cho ta. Nhưng bởi nó ăn vụng lúa của ta nhiều lắm nên ta không cho nó ở trên này, ta đuổi nó xuống hạ giới cho nó giữ lúa ở dưới ấỵ.
Vua Bếp tâu:
- Nó xuống dưới ấy nó lại ăn vụng lúa hại lắm. Bẩm, chúng con thiết nghĩ: lúa của Trời nhiều, lúa của người ít, của Trời nó ăn không hết chớ của người nó cứ ăn mãi, thì có ngày hết cả, người đến chết đói mất. Vậy xin bây giờ lại cho nó lên trên Trời là phảị.
Trời nghe tâu phán rằng:
- Không được. Ta đã đuổi nó đi cho xa, ta không thể cho nó lại lên đây nữạ Thôi bây giờ có một cách: Ta có một con mèo, ta cho chú đem xuống hạ giới để khi nào chuột nó ăn lúa của nhân gian thì thả mèo ra cho nó bắt chuột, rồi gầm gừ ăn chuột đi, còn khi nào nó không muốn bắt chuột, thì chú bảo con mèo cứ kêu với con chuột rằng: "Nghèo, nghèo, nghèo", thì chuột nó cũng sợ mà nó phải bỏ đi.
Vua Bếp lạy tạ, rồi lại đem chuột va đem cả mèo xuống hạ giớị Rồi cứ theo như lời dậy mà làm.
Thành tự bấy giờ khi nào mèo rình bắt được chuột, rồi mèo cứ "gầm gừ, gầm gừ" và khi nào không bắt được chuột thì mèo ngồi kêu:"nghèo, nghèo, nghèo, nghèo"...
Nhưng lúc ấy, mèo hồi nghĩ lại, mới lấy làm giận vua Bếp, vì tại vua Bếp mèo mới phải xuống dương gian. Nhưng không làm gì nổi vua Bếp, mèo chỉ còn cách thỉnh thoảng vào giữa đống tro bếp để phóng uế.
(sưu tầm)
Linh ứng
Ở ngoài trời, gió đêm lạnh lẽo và ẩm ướt, nhưng trong căn phòng có rèm che kín mít của biệt thự Lakesnam thì sáng lung linh ánh lửa.
Hai cha con đang đánh cờ với nhau và có lối chơi riêng biệt, ông già vừa đi những nước sai cơ bản, làm hở thế cờ rất nguy hiểm đến nỗi bà vợ ngồi đan áo bên lò sưởi cũng cau mày.
Gió rít nghe ghê quá, ông White nhận ra sai lầm của mình trong nước cờ nên cố gợi chuyện để con trai mất tập trung.
Vâng, con cũng nghe thấy, tuy đáp nhưng hai mắt của người con vẫn dán chặt vào bàn cờ và đưa thẳng bàn tay ra - chiếu.
Tối nay trời lạnh quá, người cha tiếp tục nói.
Vâng, chiếu - cậu con trai đáp.
Thật tệ khi phải sống xa mọi người! Ông White chợt nói to. Trong tất cả những nơi hẻo lánh của xứ này thì đây là nơi khó chịu nhất. Lối đi ngoài vườn đầy các vũng nước, còn đường đi biến thành dòng nước chảy xiết. Tôi thật không hiểu người ta đang nghĩ gì. Chỉ có hai hộ ngụ cư nên chẳng ai thèm lo cái chốn này đâu.
Thôi, ông bình tĩnh lại đi, bà vợ dịu dàng động viên. Có thể ván sau ông sẽ thắng.
Ông White ngước nhìn lên và bắt gặp ánh mắt ra hiệu ngầm giữa hai mẹ con. Ông không nói nữa và mỉm cười khó hiểu.
Anh ta đến đấy, Herbert White nói khi nghe thấy tiếng mở cổng vườn và tiếng chân bước nặng nề về phía cửa nhà.
Ông già vội đứng lên mở cửa rồi chia buồn với người khách mới đến và nghe người ấy than phiền về tình cảnh của mình, đến nỗi bà White phải thì thầm: "Lạy chúa tôi!" rồi cất tiếng ho khẽ khi chồng bà trở vào phòng, theo sau là một chàng trai cao to mạnh khoẻ có đôi mắt tròn và gương mặt đỏ au.
Đây là thượng sĩ Morris, ông White giới thiệu.
Sau khi bắt tay bà chủ nhà cùng cậu Herbert, Morris ngồi xuống ghế bành bên lò sưởi và khoan khoái thấy chủ nhà bày lên bàn một chai whisky và mấy chiếc cốc.
Sau ba cốc rượu, đôi mắt của người khách long lanh hơn và anh ta bắt đầu kể cho mọi người nghe về những cảnh kỳ quái, những sự kiện hiển hách, về chiến tranh, bệnh dịch và những dân tộc lạ lùng.
Tất cả những điều đó đã diễn ra những hai mươi mốt năm đấy, ông White vừa nói vừa gật đầu về phía hai mẹ con. Lúc ra đi cậu ấy là một đứa bé gầy yếu như que củi và đang làm công tại kho hàng hoá. Thế mà bây giờ cậu ta cao to như thế này đây.
Cậu ta không có vẻ gì là phải chịu khổ quá nhiều, bà White lịch sự đáp.
Tôi muốn đi một chuyến sang Ấn Độ để xem cuộc sống bên ấy ra sao. Ông chồng nói.
Bác cứ ở nhà còn hơn làsang bên đó, người khách lắc đầu.
Rồi anh ta đặt chiếc cốc đã uống cạn xuống bàn, khẽ thở dài và lại lắc đầu.
Tôi thì thích xem những đền thờ cổ bên ấy, xem những vị đạo sĩ và những tay làm trò ma thuật, ông White tiếp. Lần trước hình như cậu đang kể cho tôi nghe về một bàn tay khỉ, phải không cậu Morris?
À, chẳng có gì đâu, bác. Anh lính vội đáp. Chẳng đáng để kể lại.
Một bàn tay khỉ à? Bà già tò mò hỏi.
Ồ, chỉ là trò ma thuật thôi, Morris đáp với vẻ tự mãn.
Mọi người tỏ ra chú ý lời nói của Morris. Vị khách lơ đãng đưa chiếc cốc không lên môi rồi đặt xuống. Chủ nhà liền rót tiếp cho anh.
Nhìn bề ngoài, Morris vừa nói vừa để bàn tay trong túi áo, - Nó chỉ là một bàn tay khỉ nhỏ bé, bình thường và khô héo như một xác ướp.
Morris rút trong túi ra một vật rồi đưa cho mọi người xem. Bà White nhăn mặt khựng lại, còn Herbert thì cầm lấy bàn tay khỉ lên quan sát một cách tò mò.
Nó đặc biệt ở chỗ nào? Ông White lấy bàn tay khỉ từ tay cậu con trai rồi xem xét một lát trước khi đặt nó xuống bàn.
Người ta bảo rằng nó đã được một ông đạo sĩ già làm phép. Ông ấy đúng là một vị thánh sống. Ông muốn thiên hạ thấy rằng con người thì phải có số mệnh và ai cãi lại thì phải gánh lấy hậu quả đau khổ. Đạo sĩ đã làm phép cho bàn tay khỉ này để nó giúp ba người khác nhau mỗi người được hưởng ba điều ước.
Morris nói bằng giọng xúc động đến nỗi người nghe có cảm giác như họ đã cười không đúng lúc.
Thế tại sao anh không ước cả ba điều đi? Herbert có vẻ châm biếm.
Người lính nhìn thẳng vào cậu con trai bằng ánh mắt mà người già cho là có vẻ tự phụ.
Tôi đã ước cả ba điều rồi, Morris bình tĩnh nói nhưng gương mặt đỏ au của anh tái dần.
Và cả ba điều đều đạt kết quả chứ? Bà chủ nhà hỏi.
Vâng, Morris đáp và nghiến hai hàm răng vào miệng cốc.
Còn ai dùng chiếc bùa này nữa không? Bà chủ hỏi.
Có, trước cháu có một người, anh ta cũng ước ba điều. Cháu không biết hai điều ước đầu tiên của anh ta là gì, song điều thứ ba thì anh ta ước được chết. Thế là bàn tay khỉ này rơi vào tay cháu.
Giọng Morris trở nên trang nghiêm đến nỗi cả nhà lặng im, không ai nói gì cả.
Nếu cháu đã ước đủ ba điều rồi, cuối cùng ông già lên tiếng, thì Morris này, cái bàn tay khỉ hết giúp cháu nữa rồi. Vậy cháu còn giữ nó làm gì.
Có lẽ tại cháu thích giữ thế thôi, người lính gật đầu đáp. Ban đầu cháu định bán nó, nhưng sau lại thôi, nó đã gây ra khá nhiều tội lỗi rồi. Vả lại, chẳng có ai muốn mua nó cả. Có người bảo rằng đấy chỉ là trò đùa, còn những người hơi tin một chút thì họ muốn thử trước rồi sau mới trả tiền.
Nếu còn ba điều ước nữa thì cháu có ước không? Ông già nhìn thẳng vào Morris.
Cháu không biết... quả thật... cháu không biết nữa, Morris đáp.
Anh cầm lấy bàn tay khỉ, mân mê trong tay một lát rồi bất ngờ quẳng nó vào bếp lửa. Ông White khẽ kêu lên rồi vội cúi người lôi nó ra. Bác cứ để cho nó cháy đi thì hơn, Morris nghiêm trang nói.
Nếu cháu không muốn giữ nó nữa, Morris ạ, thì cháu cho bác vậy, ông già bảo.
Không. Anh lính khăng khăng đáp. Cháu đã quăng nó vào lửa rồi. Nếu bác muốn giữ lại thì về sau có chuyện gì bác đừng trách cháu. Nếu bác là một người hiểu biết, thì bác nên quăng nó vào lò đi.
Ông già lắc đầu, chăm chú quan sát vật vừa chiếm được.
Cách dùng nó như thế nào? Ông hỏi.
Chỉ cần cầm nó trong bàn tay phải và nói to điều mình muốn ước... Cháu xin báo trước cho bác là nó có thể gây ra hậu quả chẳng tốt đẹp gì đâu.
Giống chuyện "Nghìn lẻ một đêm" quá, bà White nói rồi đứng lên dọn bàn. Ông có thể ước cho tôi có tám tay được không?
Ông chồng rút lá bùa ra khỏi túi, rồi cả ba cùng bật cười khi thấy Morris hốt hoảng giữ lấy cánh tay ông.
Nếu bác quyết định ước một điều - Anh nghiêm nghị bảo, thì ít nhất bác nên ước một điều tốt chứ.
Ông White đút bàn tay khỉ vào túi rồi dọn ghế mời khách ăn cơm. Trong bữa ăn mọi người hầu như quên câu chuyện bùa chú vừa rồi. Ăn xong, gia đình ông White thích thú ngồi nghe một câu chuyện mới về cuộc phiêu lưu của anh lính trẻ trên đất Ấn Độ.
Sau khi khách ra về, Herbert mới nói với ba mẹ:
Nếu chuyện về bàn tay khỉ thật như chuyện anh ấy vừa kể cho nhà mình nghe thì nó chẳng có lợi gì cho nhà ta đâu.
Hình như ông đã trả cho Morris cái gì rồi phải không? Bà White hỏi và soi mói nhìn chồng.
Ồ, có đáng gì đâu. Ông chồng đỏ mặt đáp. Cậu ấy không muốn nhận, nhưng tôi ép cậu ấy phải lấy. Rồi cậu ta van xin tôi vứt cái bàn tay khỉ ấy đi.
Xin đừng! - White vừa kêu lên vừa làm vẻ kinh ngạc. Này nhé, nhà mình sẽ giàu có, sẽ nổi tiếng và sống sung sướng. Trước tiên ba ước được làm vua đi. Và như thế ba sẽ không còn chịu sự lãnh đạo của mẹ nữa.
Rồi cậu ta chạy quanh bàn ăn để tránh đòn bà mẹ đuổi theo.
Ông White rút bàn tay khỉ ra rồi do dự ngắm nhìn.
Quả thực ba không biết nên ước cái gì, ông nói khẽ. Ba thấy chẳng thiếu gì cả.
Nếu ba trả hết tiền nhà ngay lúc này thì sướng quá phải không? Herbert đặt tay lên vai ông bảo. - Này nhé, nếu ước có hai trăm đồng bảng thì ba sẽ hết nợ.
Ông White mỉm cười ngượng ngùng, sau đó cầm lá bùa giơ lên trong lúc Herbert giả vờ trang nghiêm rồi nháy mắt ra hiệu cho bà mẹ với vẻ hơi khôi hài. Cậu ta ngồi vào ghế trước cây đàn piano, dạo vài hợp âm truyền cảm.
Tôi ước có hai trăm đồng bảng, ông già quyết định lên tiếng.
Câu nói hoà lẫn trong tiếng đàn piano rồi bất ngờ bị ngắt quãng bởi tiếng kêu sợ hãi của ông White. Vợ con ông vội chạy về phía ông.
Nó nhúc nhích! Ông White hét lên, sợ hãi liếc nhìn bàn tay khỉ đang nằm dưới đất. Lúc tôi nói điều ước thì nó quằn quại trong tay tôi như một con rắn.
Tuy nhiên không thấy tiền đâu cả, Herbert vừa tuyên bố vừa nhặt lá bùa đặt lên bàn. Và con xinh đánh cuộc là con sẽ không thấy tiền xuất hiện.
Này ông, trí tưởng tượng đã lừa ông rồi. Bà White lo lắng nhìn chồng.
Ông White lắc đầu bảo:
Không sao, chẳng có chuyện gì tồi tệ xảy ra cả. Nhưng nó đã làm tôi phát hoảng lên.
Cả nhà lại ngồi trước lò sưởi, hai cha con tiếp tục hút thuốc. Bên ngoài gió thổi ngày càng mạnh, còn ông White thì giật mình sợ hãi khi nghe thấy tiếng kẹt cửa ở tầng hai. Trong phòng bao trùm sự im lặng khác thường và buồn tẻ cho đến khi hai vợ chồng đứng lên đi ngủ.
Con tin là ba sẽ thấy tiền trong chiếc túi to đặt giữa giường, Herbert nói và chúc cha mẹ ngủ ngon.
Sáng hôm sau, lúc cả nhà ngồi ăn điểm tâm trong căn phòng ngập ánh nắng mai, Herbert chế giễu thái độ sợ hãi của người cha. Không khí trong phòng rất bình thường, khác hẳn với không khí đêm hôm trước. Bàn tay khỉ quắt queo dơ bẩn nằm lăn lóc trên một chiếc bàn nhỏ chứng tỏ mọi người đã mất hoàn toàn lòng tin vào khả năng phù phép của nó.
Tôi nghi là bọn lính đều giống nhau, - bà White nói. Tôi thật ngạc nhiên khi thấy cả nhà ta ngồi nghe những chuyện tào lao như thế. Thời nay làm sao ước được như vậy. Và nếu điều ước thành hiện thực thì hai trăm đồng liệu có thể gây tai hoạ gì chứ?
Chúng có thể rơi từ trên trời xuống trúng đầu ba đấy, Herbert nói châm biếm.
Morris khẳng định mọi việc sẽ xảy ra rất tự nhiên, đến nỗi ta tưởng nó là do trùng hợp ngẫu nhiên.
Dù sao ba cũng đừng động đến số tiền ấy trước khi con đi làm về, Herbert đứng lên - Con sợ rằng ba sẽ trở thành ông già keo kiệt để mẹ nhăn mặt nhăn mày thôi.
Bà mẹ mỉm cười tiễn con ra cửa. Sau đó bà quay vào bàn ăn và cười ngặt nghẽo vì tính cả tin của chồng. Sau đó bà vội chạy nhanh ra cửa khi nghe tiếng gõ cửa của ông đưa thư, rồi bà thấy rằng ông đưa thư chỉ gửi cho mình một tờ biên lai của bác thợ may, như vậy tay thượng sĩ nát rượu đã gạt ông bà rồi.
Chắc thằng Herbert sẽ không ngừng chế giễu chúng ta khi nó đi làm về. Bà nói khi cả hai ngồi vào bàn ăn sáng.
Tất nhiên, Ông White vừa đáp vừa rót bia. Nhưng điều đó không có nghĩa là bàn tay khỉ đã không nhúc nhích trong tay tôi. Tôi dám thề như vậy.
Đó chỉ là ảo giác thôi, Bà vợ tuyên bố.
Tôi nhắc lại là nó cựa quậy thật sự. Hoàn toàn không phải là ảo giác. Ơ... nhưng bà làm sao thế?
Bà White không đáp. Bà đang quan sát một người đàn ông đang lởn vởn một cách bí hiểm bên ngoài nhà bà, anh ta nhìn ngôi nhà và tỏ ra lưỡng lự không dám vào. Nghĩ tới câu chuyện hai trăm đồng bảng, bà thấy rằng người lạ ăn mặt rất chỉnh tề, đầu đội mũ trụ mới tinh. Anh ta dừng lại ba lần trước cổng rồi lại bỏ đi. Đến lần thứ tư anh ta đột ngột mở cổng rồi đi thẳng vào nhà. Đúng lúc đó bà White vội đưa tay ra sua lưng cởi bỏ tạp dề nhét xuống đệm ghế bành.
Bà dẫn người lạ vào phòng khách. Sau khi giới thiệu xong, bà White kiên nhẫn đợi người khách lạ cho biết lý do viếng thăm. Nhưng anh ta vẫn im lặng một cách khác thường.
Người ta nhờ tôi đến thăm ông bà, cuối cùng anh ta lên tiếng vừa cúi người nhặt một sợi chỉ vương trên quần. Tôi thay mặt hãng Mo và Meghin.
Bà già giật mình.
Có tai nạn gì xảy ra với Herbert ư? Xin anh làm ơn nói ngay chuyện gì đã xảy ra!
Thôi nào bà ơi, Ông chồng vội bảo, Bà ngồi xuống đi và đừng vội kết luận, sau đó ông quay sang người khách với vẻ trầm ngâm rồi hỏi tiếp:
Chắc anh không đem tin dữ đến cho chúng tôi chứ, có phải không?
Rất tiếc... anh kia đáp.
Nó bị thương à? Bà già hỏi.
Vị khách gật đầu.
Anh ấy bị thương nặng, anh ta bình tĩnh nói. Nhưng anh ấy không hề đau đớn.
Lạy Chúa tôi! bà già chắp hai tay kêu to. Người đã tránh cho con của con không phải đau đớn. Lạy Chúa,...
Bà bỗng ngưng bặt khi hiểu ra ý nghĩa câu nói an ủi xã giao của người khách và đọc thấy trên nét mặt anh ta lời xác nhận cho nỗi sợ hãi của mình. Bà nín thở quay sang ông chồng rồi đặt bàn tay già nua run rẩy lên bàn tay ông. Mọi người im lặng hồi lâu.
Anh ấy bị xe hơi đụng, cuối cùng người khách khẽ lên tiếng.
Xe đụng à - Ông White ngơ ngác.
Ông ngồi im trên ghế nhìn qua cửa sổ, mắt nhòe đi, ông nắm tay bà vợ và siết chặt như trong ngày lễ đính hôn của họ cách đây bốn mươi năm.
Chúng tôi chỉ có một mình nó, Ông nói và chậm rãi quay sang vị khách. Đúng là nghiệt ngã cho chúng tôi quá.
Người khách ho khẽ rồi đứng lên chậm rãi bước tới bên cửa sổ.
Hãng chúng tôi giao cho tôi nhiệm vụ đến chia buồn chân thành với ông bà vì sự mất mát đau đớn này, anh ta nói mà không quay đầu lại... Xin ông bà hiểu cho, tôi chỉ là một nhân viên thừa hành nhiệm vụ.
Không có tiếng đáp lại. Bà già tái mặt đi, nhìn trân trối vào người khách và thở ngắt quãng. Ông White cũng đứng chết lặng.
Tôi cũng được giao nhiệm vụ truyền đạt lại cho ông bà hay rằng hãng Mo và Meghin không chịu trách nhiệm về tai nạn này, vị khách nói tiếp, nhưng xét thấy công lao làm việc chăm chỉ của con trai ông bà cho hãng chúng tôi, nên hãng muốn biếu ông bà một khoản bồi thường.
Ông White buông tay vợ ra, đứng lên và hoảng hốt nhìn chằm chằm vào người khách. Sau đó ông chỉ cố nhếch mép nói được một từ:
Bao nhiêu?
Hai trăm đồng bảng.
Không nghe thấy tiếng kêu xé ruột của vợ, ông già khẽ mỉm cười đưa tay ra như một người mù rồi ngã khuỵu xuống!
Ông bà White chôn cất con trai tại nghĩa trang lớn cách nhà ba cây số, sau đó họ quay về căn nhà tối tăm và quạnh quẽ của họ. Mọi việc diễn ra nhanh đến nỗi ban đầu họ không hiểu nổi. Họ vẫn chờ đợi như có một chuyện gì đó nữa phải xảy ra, và nó có khả năng làm giảm nhẹ gánh nặng quá lớn đối với hai tâm hồn già nua. Nhưng ngày lại ngày trôi qua, mong ngóng của họ biến thành sự cam chịu, một sự cam chịu vô vọng của người già mà thiên hạ thừơng gọi nhầm là sự lãnh đạm. Đôi khi họ chỉ nói với nhau vài câu, bởi vì họ chẳng còn gì để nói nữa, đối với họ ngày tháng sao mà dài lê thê, chỉ còn là sự chán chường và mệt mỏi.
Khoảng một tuần sau khi chôn cất con trai xong, hôm nọ ông White giật mình thức dậy lúc nửa đêm, ông quờ tay sang và chẳng thấy vợ đâu. Căn phòng ngập đầy bóng tối. Bên cạnh cửa sổ có tiếng khóc nghẹn ngào. Ông White ngước cổ lên nghe ngóng.
Lên giường đi mình ơi, Ông nhẹ nhàng bảo vợ. Mình sẽ cảm lạnh mất.
Con trai tôi còn đang phải chịu lạnh hơn tôi nhiều, Bà đáp lại và càng khóc to hơn.
Rồi dần dần ông White không còn nghe tiếng khóc nữa. Chiếc giường ấm áp đã làm cơn buồn ngủ ập đến. Ông cuộn mình ngủ thiếp đi. Một tiếng kêu tuyệt vọng của vợ làm ông giật mình tỉnh giấc.
Bàn tay khỉ! Bà kêu lên như điên dại - Bàn tay khỉ.
Ông già rùng mình sợ hãi.
Nó đâu? Ông hỏi. Có chuyện gì vậy?
Bà vợ run rẩy bước lại giường.
Tôi đang cần nó, Bà nói. Ông chưa vứt nó đi đấy chứ?
Tôi để nó ở ngoài phòng khách ấy, Ông kinh ngạc đáp. - Nhưng sao vậy?
Vừa khóc vừa cười, bà White cúi xuống hôn lên má chồng.
Tôi vừa nhớ ra nó, Bà nói với giọng đứt quãng. Tại sao tôi không nghĩ đến nó sớm hơn nhỉ? Còn ông, tại sao ông cũng không nghĩ tới?
Nghĩ tới gì?
Nghĩ tới hai điều ước kia chứ còn nghĩ tới gì nữa. Chúng ta mới chỉ ước có một điều.
Thế bà không thấy như vậy là quá đủ hay sao? Ông gắt lên.
Không! Bà kêu lên đắc thắng. Chúng ta sẽ ước một điều nữa. Ông hãy đi lấy bàn tay khỉ ngay và ước cho con trai chúng ta sống lại.
Ông già ngồi bật dậy, quăng cả mền gối và run lên cầm cập.
Trời ơi, bà điên mất rồi! Ông kinh hoàng thốt lên.
Ông đi tìm bàn tay khỉ đi! Bà nghẹn ngào ra lệnh. -Tìm ngay và ước điều đó đi... Ôi, con trai của tôi!
Ông White bật diêm châm nến.
Bà đi nằm đi, ông bảo. Bà lẩm cẩm rồi đấy.
Nhưng nếu điều ước thứ nhất đã thành thì tại sao lại không thể ước điều thứ hai?
Đó chỉ là sự trùng hợp, Ông lắp bắp.
Ông đi tìm bàn tay khỉ ngay đi! Bà vừa kêu lên vừa đẩy ông ra cửa.
Sau khi bước xuống thang gác trong bóng tối, ông mò mẫm đi vào phòng khách. Vật bùa vẫn nằm ở chỗ cũ, và ông hoảng hốt khi nghĩ tới chuyện, nếu ước xong thì thằng con trai què cụt, mình mẩy đầy máu sẽ xuất hiện trước mặt ông trước khi ông kịp chạy ra khỏi căn phòng. Ông quính quáng nên không tìm ra cửa. Trán ông toát mồ hôi lạnh, ông vừa cầm chặt bàn tay khỉ vừa đi vòng qua một chiếc bàn, men theo tường và cuối cùng ra được tới hành lang. Khi trở về buồng ngủ thì ông thấy gương mặt vợ ông đã biến sắc, mặt bà tái đi một cách khác thường. Ông White bỗng nhiên thấy sợ.
Ông ước đi! Bà quát lên.
Làm thế không nên đâu bà, ông lắp bắp nói.
Ước đi! Bà nhắc lại.
Ông chồng giơ tay lên thì thầm:
Tôi muốn con trai tôi sống lại!
Vật bùa rơi xuống sàn. Ông già run rẩy nhìn theo rồi buông mình xuống ghế bành, trong khi vợ ông nhớn nhác bước tới cửa sổ và kéo rèm lên.
Ông vẫn ngồi im cho đến lúc cảm thấy lạnh, thỉnh thoảng ông liếc nhìn sang phía bà vợ đang trông ngóng cạnh cửa sổ. Ngọn nến cháy gần hết, nó hắt lên trần nhà và bốn bức tường xung quanh những cái bóng lung linh. Cuối cùng nó phả một ánh lửa sáng hơn rồi phụt tắt. Nghĩ là vật bùa, không còn tác dụng ông White cảm thấy hài lòng, thong thả lên giường nằm, và một lúc sau bà vợ ông cũng chẳng nói chẳng rằng lên nằm cạnh ông.
Cả hai im lặng lắng nghe tiếng tích tắc đồng hồ. Có tiếng cót két cầu thang. Một con chuột chạy bên tường kêu chít chít. Bóng đêm càng trở nên nặng nề. Lúc ấy, lấy hết can đảm, ông White cầm bao diêm bật một que và xuống nhà tìm nến.
Khi ông bước tới xuống chân cầu thang thì que diêm cháy hết. Đúng lúc đó ông nghe thấy tiếng gõ nhẹ ngoài cửa chính.
Ông già đánh rơi hộp diêm xuống đất và đứng như trời trồng, miệng không dám thở, cho đến khi có tiếng gõ cửa lần nữa vang lên. Thế là ông vội quay lui leo lên thang gác trở về phòng và đóng cửa lại.
Tiếng gõ cửa lần thứ ba vang lên khắp nhà.
Cái gì thế? Bà già giật mình kêu lên.
Một con chuột cống, Ông White run rẩy đáp - Nó chạy qua mặt tôi ngoài thang gác.
Bà White chồm dậy nghe ngóng. Tiếng gõ cửa lại vang lên mạnh hơn.
Herbert đấy! Bà reo to. Con trai của tôi!
Bà chạy ra cửa, nhưng ông chồng vượt lên và túm lấy tay bà.
Bà làm gì thế? Ông khản giọng hỏi.
Con trai tôi! thằng Herbert đấy! Bà kêu lên và vùng vẫy để thoát ra.
Tôi quên mất là nghĩa địa cách đây có ba cây số. Tại sao ông cản tôi? Buông tôi ra! Tôi phải ra mở cửa cho nó!
Lạy Chúa, không được mở cửa! Ông hét lên và run lập cập.
Ồ, thì ra ông sợ thằng con của ông à? Buông tôi ra!... Mẹ đây, Herbert, mẹ ra đây!
Tiếng gõ cửa vang lên từng chập. Bà vợ nhoài người thoát khỏi tay chồng và chạy ra khỏi phòng. Ông chồng chạy theo tới cầu thang, van xin bà quay trở lại, trong lúc đó bà nhảy ba bốn bậc một lúc chạy xuống dưới. Ông nghe thấy tiếng xích sắt kêu loảng xoảng và tiếng chốt dưới chân cửa lách cách. Sau đó ông nghe thấy tiếng hét lên của bà vợ.
Chốt cửa phía trên! Ông xuống mở giúp tôi với. Tôi không với tới.
Nhưng ngay lúc đó, ông White đang nằm bò ra sàn tuyệt vọng mò tìm bàn tay khỉ. Ông cầu mong tìm thấy nó trước khi con người ở ngoài kia bước vào nhà! Tiếng dập cửa ầm vang khắp nhà và ông nghe tiếng bà vợ kéo ghế kê sát cửa. Rồi tiếng chốt trên bắt đầu vang lên cót két. Đúng lúc đó ông già chộp được bàn tay khỉ, hốt hoảng lẩm nhẩm đọc điều ước cuối cùng.
Tiếng gõ cửa lập tức im bặt, mặc dù âm thanh của nó vẫn còn vang vọng trong nhà. Chiếc ghế được kéo lui và cánh cửa mở ra. Một luồng gió lạnh ùa vào cầu thang. Tiếng rên dài tuyệt vọng và đau khổ vang lên. Hai vợ chồng già chạy nhanh xuống thang gác rồi cùng lao ra cổng. Dưới ánh sáng lung linh của ngọn đèn trước nhà, con đường trải dài hun hút bóng đêm, nó vắng lặng, không một bóng người, chỉ có tiếng côn trùng rã rích thê lương.
Hai cha con đang đánh cờ với nhau và có lối chơi riêng biệt, ông già vừa đi những nước sai cơ bản, làm hở thế cờ rất nguy hiểm đến nỗi bà vợ ngồi đan áo bên lò sưởi cũng cau mày.
Gió rít nghe ghê quá, ông White nhận ra sai lầm của mình trong nước cờ nên cố gợi chuyện để con trai mất tập trung.
Vâng, con cũng nghe thấy, tuy đáp nhưng hai mắt của người con vẫn dán chặt vào bàn cờ và đưa thẳng bàn tay ra - chiếu.
Tối nay trời lạnh quá, người cha tiếp tục nói.
Vâng, chiếu - cậu con trai đáp.
Thật tệ khi phải sống xa mọi người! Ông White chợt nói to. Trong tất cả những nơi hẻo lánh của xứ này thì đây là nơi khó chịu nhất. Lối đi ngoài vườn đầy các vũng nước, còn đường đi biến thành dòng nước chảy xiết. Tôi thật không hiểu người ta đang nghĩ gì. Chỉ có hai hộ ngụ cư nên chẳng ai thèm lo cái chốn này đâu.
Thôi, ông bình tĩnh lại đi, bà vợ dịu dàng động viên. Có thể ván sau ông sẽ thắng.
Ông White ngước nhìn lên và bắt gặp ánh mắt ra hiệu ngầm giữa hai mẹ con. Ông không nói nữa và mỉm cười khó hiểu.
Anh ta đến đấy, Herbert White nói khi nghe thấy tiếng mở cổng vườn và tiếng chân bước nặng nề về phía cửa nhà.
Ông già vội đứng lên mở cửa rồi chia buồn với người khách mới đến và nghe người ấy than phiền về tình cảnh của mình, đến nỗi bà White phải thì thầm: "Lạy chúa tôi!" rồi cất tiếng ho khẽ khi chồng bà trở vào phòng, theo sau là một chàng trai cao to mạnh khoẻ có đôi mắt tròn và gương mặt đỏ au.
Đây là thượng sĩ Morris, ông White giới thiệu.
Sau khi bắt tay bà chủ nhà cùng cậu Herbert, Morris ngồi xuống ghế bành bên lò sưởi và khoan khoái thấy chủ nhà bày lên bàn một chai whisky và mấy chiếc cốc.
Sau ba cốc rượu, đôi mắt của người khách long lanh hơn và anh ta bắt đầu kể cho mọi người nghe về những cảnh kỳ quái, những sự kiện hiển hách, về chiến tranh, bệnh dịch và những dân tộc lạ lùng.
Tất cả những điều đó đã diễn ra những hai mươi mốt năm đấy, ông White vừa nói vừa gật đầu về phía hai mẹ con. Lúc ra đi cậu ấy là một đứa bé gầy yếu như que củi và đang làm công tại kho hàng hoá. Thế mà bây giờ cậu ta cao to như thế này đây.
Cậu ta không có vẻ gì là phải chịu khổ quá nhiều, bà White lịch sự đáp.
Tôi muốn đi một chuyến sang Ấn Độ để xem cuộc sống bên ấy ra sao. Ông chồng nói.
Bác cứ ở nhà còn hơn làsang bên đó, người khách lắc đầu.
Rồi anh ta đặt chiếc cốc đã uống cạn xuống bàn, khẽ thở dài và lại lắc đầu.
Tôi thì thích xem những đền thờ cổ bên ấy, xem những vị đạo sĩ và những tay làm trò ma thuật, ông White tiếp. Lần trước hình như cậu đang kể cho tôi nghe về một bàn tay khỉ, phải không cậu Morris?
À, chẳng có gì đâu, bác. Anh lính vội đáp. Chẳng đáng để kể lại.
Một bàn tay khỉ à? Bà già tò mò hỏi.
Ồ, chỉ là trò ma thuật thôi, Morris đáp với vẻ tự mãn.
Mọi người tỏ ra chú ý lời nói của Morris. Vị khách lơ đãng đưa chiếc cốc không lên môi rồi đặt xuống. Chủ nhà liền rót tiếp cho anh.
Nhìn bề ngoài, Morris vừa nói vừa để bàn tay trong túi áo, - Nó chỉ là một bàn tay khỉ nhỏ bé, bình thường và khô héo như một xác ướp.
Morris rút trong túi ra một vật rồi đưa cho mọi người xem. Bà White nhăn mặt khựng lại, còn Herbert thì cầm lấy bàn tay khỉ lên quan sát một cách tò mò.
Nó đặc biệt ở chỗ nào? Ông White lấy bàn tay khỉ từ tay cậu con trai rồi xem xét một lát trước khi đặt nó xuống bàn.
Người ta bảo rằng nó đã được một ông đạo sĩ già làm phép. Ông ấy đúng là một vị thánh sống. Ông muốn thiên hạ thấy rằng con người thì phải có số mệnh và ai cãi lại thì phải gánh lấy hậu quả đau khổ. Đạo sĩ đã làm phép cho bàn tay khỉ này để nó giúp ba người khác nhau mỗi người được hưởng ba điều ước.
Morris nói bằng giọng xúc động đến nỗi người nghe có cảm giác như họ đã cười không đúng lúc.
Thế tại sao anh không ước cả ba điều đi? Herbert có vẻ châm biếm.
Người lính nhìn thẳng vào cậu con trai bằng ánh mắt mà người già cho là có vẻ tự phụ.
Tôi đã ước cả ba điều rồi, Morris bình tĩnh nói nhưng gương mặt đỏ au của anh tái dần.
Và cả ba điều đều đạt kết quả chứ? Bà chủ nhà hỏi.
Vâng, Morris đáp và nghiến hai hàm răng vào miệng cốc.
Còn ai dùng chiếc bùa này nữa không? Bà chủ hỏi.
Có, trước cháu có một người, anh ta cũng ước ba điều. Cháu không biết hai điều ước đầu tiên của anh ta là gì, song điều thứ ba thì anh ta ước được chết. Thế là bàn tay khỉ này rơi vào tay cháu.
Giọng Morris trở nên trang nghiêm đến nỗi cả nhà lặng im, không ai nói gì cả.
Nếu cháu đã ước đủ ba điều rồi, cuối cùng ông già lên tiếng, thì Morris này, cái bàn tay khỉ hết giúp cháu nữa rồi. Vậy cháu còn giữ nó làm gì.
Có lẽ tại cháu thích giữ thế thôi, người lính gật đầu đáp. Ban đầu cháu định bán nó, nhưng sau lại thôi, nó đã gây ra khá nhiều tội lỗi rồi. Vả lại, chẳng có ai muốn mua nó cả. Có người bảo rằng đấy chỉ là trò đùa, còn những người hơi tin một chút thì họ muốn thử trước rồi sau mới trả tiền.
Nếu còn ba điều ước nữa thì cháu có ước không? Ông già nhìn thẳng vào Morris.
Cháu không biết... quả thật... cháu không biết nữa, Morris đáp.
Anh cầm lấy bàn tay khỉ, mân mê trong tay một lát rồi bất ngờ quẳng nó vào bếp lửa. Ông White khẽ kêu lên rồi vội cúi người lôi nó ra. Bác cứ để cho nó cháy đi thì hơn, Morris nghiêm trang nói.
Nếu cháu không muốn giữ nó nữa, Morris ạ, thì cháu cho bác vậy, ông già bảo.
Không. Anh lính khăng khăng đáp. Cháu đã quăng nó vào lửa rồi. Nếu bác muốn giữ lại thì về sau có chuyện gì bác đừng trách cháu. Nếu bác là một người hiểu biết, thì bác nên quăng nó vào lò đi.
Ông già lắc đầu, chăm chú quan sát vật vừa chiếm được.
Cách dùng nó như thế nào? Ông hỏi.
Chỉ cần cầm nó trong bàn tay phải và nói to điều mình muốn ước... Cháu xin báo trước cho bác là nó có thể gây ra hậu quả chẳng tốt đẹp gì đâu.
Giống chuyện "Nghìn lẻ một đêm" quá, bà White nói rồi đứng lên dọn bàn. Ông có thể ước cho tôi có tám tay được không?
Ông chồng rút lá bùa ra khỏi túi, rồi cả ba cùng bật cười khi thấy Morris hốt hoảng giữ lấy cánh tay ông.
Nếu bác quyết định ước một điều - Anh nghiêm nghị bảo, thì ít nhất bác nên ước một điều tốt chứ.
Ông White đút bàn tay khỉ vào túi rồi dọn ghế mời khách ăn cơm. Trong bữa ăn mọi người hầu như quên câu chuyện bùa chú vừa rồi. Ăn xong, gia đình ông White thích thú ngồi nghe một câu chuyện mới về cuộc phiêu lưu của anh lính trẻ trên đất Ấn Độ.
Sau khi khách ra về, Herbert mới nói với ba mẹ:
Nếu chuyện về bàn tay khỉ thật như chuyện anh ấy vừa kể cho nhà mình nghe thì nó chẳng có lợi gì cho nhà ta đâu.
Hình như ông đã trả cho Morris cái gì rồi phải không? Bà White hỏi và soi mói nhìn chồng.
Ồ, có đáng gì đâu. Ông chồng đỏ mặt đáp. Cậu ấy không muốn nhận, nhưng tôi ép cậu ấy phải lấy. Rồi cậu ta van xin tôi vứt cái bàn tay khỉ ấy đi.
Xin đừng! - White vừa kêu lên vừa làm vẻ kinh ngạc. Này nhé, nhà mình sẽ giàu có, sẽ nổi tiếng và sống sung sướng. Trước tiên ba ước được làm vua đi. Và như thế ba sẽ không còn chịu sự lãnh đạo của mẹ nữa.
Rồi cậu ta chạy quanh bàn ăn để tránh đòn bà mẹ đuổi theo.
Ông White rút bàn tay khỉ ra rồi do dự ngắm nhìn.
Quả thực ba không biết nên ước cái gì, ông nói khẽ. Ba thấy chẳng thiếu gì cả.
Nếu ba trả hết tiền nhà ngay lúc này thì sướng quá phải không? Herbert đặt tay lên vai ông bảo. - Này nhé, nếu ước có hai trăm đồng bảng thì ba sẽ hết nợ.
Ông White mỉm cười ngượng ngùng, sau đó cầm lá bùa giơ lên trong lúc Herbert giả vờ trang nghiêm rồi nháy mắt ra hiệu cho bà mẹ với vẻ hơi khôi hài. Cậu ta ngồi vào ghế trước cây đàn piano, dạo vài hợp âm truyền cảm.
Tôi ước có hai trăm đồng bảng, ông già quyết định lên tiếng.
Câu nói hoà lẫn trong tiếng đàn piano rồi bất ngờ bị ngắt quãng bởi tiếng kêu sợ hãi của ông White. Vợ con ông vội chạy về phía ông.
Nó nhúc nhích! Ông White hét lên, sợ hãi liếc nhìn bàn tay khỉ đang nằm dưới đất. Lúc tôi nói điều ước thì nó quằn quại trong tay tôi như một con rắn.
Tuy nhiên không thấy tiền đâu cả, Herbert vừa tuyên bố vừa nhặt lá bùa đặt lên bàn. Và con xinh đánh cuộc là con sẽ không thấy tiền xuất hiện.
Này ông, trí tưởng tượng đã lừa ông rồi. Bà White lo lắng nhìn chồng.
Ông White lắc đầu bảo:
Không sao, chẳng có chuyện gì tồi tệ xảy ra cả. Nhưng nó đã làm tôi phát hoảng lên.
Cả nhà lại ngồi trước lò sưởi, hai cha con tiếp tục hút thuốc. Bên ngoài gió thổi ngày càng mạnh, còn ông White thì giật mình sợ hãi khi nghe thấy tiếng kẹt cửa ở tầng hai. Trong phòng bao trùm sự im lặng khác thường và buồn tẻ cho đến khi hai vợ chồng đứng lên đi ngủ.
Con tin là ba sẽ thấy tiền trong chiếc túi to đặt giữa giường, Herbert nói và chúc cha mẹ ngủ ngon.
Sáng hôm sau, lúc cả nhà ngồi ăn điểm tâm trong căn phòng ngập ánh nắng mai, Herbert chế giễu thái độ sợ hãi của người cha. Không khí trong phòng rất bình thường, khác hẳn với không khí đêm hôm trước. Bàn tay khỉ quắt queo dơ bẩn nằm lăn lóc trên một chiếc bàn nhỏ chứng tỏ mọi người đã mất hoàn toàn lòng tin vào khả năng phù phép của nó.
Tôi nghi là bọn lính đều giống nhau, - bà White nói. Tôi thật ngạc nhiên khi thấy cả nhà ta ngồi nghe những chuyện tào lao như thế. Thời nay làm sao ước được như vậy. Và nếu điều ước thành hiện thực thì hai trăm đồng liệu có thể gây tai hoạ gì chứ?
Chúng có thể rơi từ trên trời xuống trúng đầu ba đấy, Herbert nói châm biếm.
Morris khẳng định mọi việc sẽ xảy ra rất tự nhiên, đến nỗi ta tưởng nó là do trùng hợp ngẫu nhiên.
Dù sao ba cũng đừng động đến số tiền ấy trước khi con đi làm về, Herbert đứng lên - Con sợ rằng ba sẽ trở thành ông già keo kiệt để mẹ nhăn mặt nhăn mày thôi.
Bà mẹ mỉm cười tiễn con ra cửa. Sau đó bà quay vào bàn ăn và cười ngặt nghẽo vì tính cả tin của chồng. Sau đó bà vội chạy nhanh ra cửa khi nghe tiếng gõ cửa của ông đưa thư, rồi bà thấy rằng ông đưa thư chỉ gửi cho mình một tờ biên lai của bác thợ may, như vậy tay thượng sĩ nát rượu đã gạt ông bà rồi.
Chắc thằng Herbert sẽ không ngừng chế giễu chúng ta khi nó đi làm về. Bà nói khi cả hai ngồi vào bàn ăn sáng.
Tất nhiên, Ông White vừa đáp vừa rót bia. Nhưng điều đó không có nghĩa là bàn tay khỉ đã không nhúc nhích trong tay tôi. Tôi dám thề như vậy.
Đó chỉ là ảo giác thôi, Bà vợ tuyên bố.
Tôi nhắc lại là nó cựa quậy thật sự. Hoàn toàn không phải là ảo giác. Ơ... nhưng bà làm sao thế?
Bà White không đáp. Bà đang quan sát một người đàn ông đang lởn vởn một cách bí hiểm bên ngoài nhà bà, anh ta nhìn ngôi nhà và tỏ ra lưỡng lự không dám vào. Nghĩ tới câu chuyện hai trăm đồng bảng, bà thấy rằng người lạ ăn mặt rất chỉnh tề, đầu đội mũ trụ mới tinh. Anh ta dừng lại ba lần trước cổng rồi lại bỏ đi. Đến lần thứ tư anh ta đột ngột mở cổng rồi đi thẳng vào nhà. Đúng lúc đó bà White vội đưa tay ra sua lưng cởi bỏ tạp dề nhét xuống đệm ghế bành.
Bà dẫn người lạ vào phòng khách. Sau khi giới thiệu xong, bà White kiên nhẫn đợi người khách lạ cho biết lý do viếng thăm. Nhưng anh ta vẫn im lặng một cách khác thường.
Người ta nhờ tôi đến thăm ông bà, cuối cùng anh ta lên tiếng vừa cúi người nhặt một sợi chỉ vương trên quần. Tôi thay mặt hãng Mo và Meghin.
Bà già giật mình.
Có tai nạn gì xảy ra với Herbert ư? Xin anh làm ơn nói ngay chuyện gì đã xảy ra!
Thôi nào bà ơi, Ông chồng vội bảo, Bà ngồi xuống đi và đừng vội kết luận, sau đó ông quay sang người khách với vẻ trầm ngâm rồi hỏi tiếp:
Chắc anh không đem tin dữ đến cho chúng tôi chứ, có phải không?
Rất tiếc... anh kia đáp.
Nó bị thương à? Bà già hỏi.
Vị khách gật đầu.
Anh ấy bị thương nặng, anh ta bình tĩnh nói. Nhưng anh ấy không hề đau đớn.
Lạy Chúa tôi! bà già chắp hai tay kêu to. Người đã tránh cho con của con không phải đau đớn. Lạy Chúa,...
Bà bỗng ngưng bặt khi hiểu ra ý nghĩa câu nói an ủi xã giao của người khách và đọc thấy trên nét mặt anh ta lời xác nhận cho nỗi sợ hãi của mình. Bà nín thở quay sang ông chồng rồi đặt bàn tay già nua run rẩy lên bàn tay ông. Mọi người im lặng hồi lâu.
Anh ấy bị xe hơi đụng, cuối cùng người khách khẽ lên tiếng.
Xe đụng à - Ông White ngơ ngác.
Ông ngồi im trên ghế nhìn qua cửa sổ, mắt nhòe đi, ông nắm tay bà vợ và siết chặt như trong ngày lễ đính hôn của họ cách đây bốn mươi năm.
Chúng tôi chỉ có một mình nó, Ông nói và chậm rãi quay sang vị khách. Đúng là nghiệt ngã cho chúng tôi quá.
Người khách ho khẽ rồi đứng lên chậm rãi bước tới bên cửa sổ.
Hãng chúng tôi giao cho tôi nhiệm vụ đến chia buồn chân thành với ông bà vì sự mất mát đau đớn này, anh ta nói mà không quay đầu lại... Xin ông bà hiểu cho, tôi chỉ là một nhân viên thừa hành nhiệm vụ.
Không có tiếng đáp lại. Bà già tái mặt đi, nhìn trân trối vào người khách và thở ngắt quãng. Ông White cũng đứng chết lặng.
Tôi cũng được giao nhiệm vụ truyền đạt lại cho ông bà hay rằng hãng Mo và Meghin không chịu trách nhiệm về tai nạn này, vị khách nói tiếp, nhưng xét thấy công lao làm việc chăm chỉ của con trai ông bà cho hãng chúng tôi, nên hãng muốn biếu ông bà một khoản bồi thường.
Ông White buông tay vợ ra, đứng lên và hoảng hốt nhìn chằm chằm vào người khách. Sau đó ông chỉ cố nhếch mép nói được một từ:
Bao nhiêu?
Hai trăm đồng bảng.
Không nghe thấy tiếng kêu xé ruột của vợ, ông già khẽ mỉm cười đưa tay ra như một người mù rồi ngã khuỵu xuống!
Ông bà White chôn cất con trai tại nghĩa trang lớn cách nhà ba cây số, sau đó họ quay về căn nhà tối tăm và quạnh quẽ của họ. Mọi việc diễn ra nhanh đến nỗi ban đầu họ không hiểu nổi. Họ vẫn chờ đợi như có một chuyện gì đó nữa phải xảy ra, và nó có khả năng làm giảm nhẹ gánh nặng quá lớn đối với hai tâm hồn già nua. Nhưng ngày lại ngày trôi qua, mong ngóng của họ biến thành sự cam chịu, một sự cam chịu vô vọng của người già mà thiên hạ thừơng gọi nhầm là sự lãnh đạm. Đôi khi họ chỉ nói với nhau vài câu, bởi vì họ chẳng còn gì để nói nữa, đối với họ ngày tháng sao mà dài lê thê, chỉ còn là sự chán chường và mệt mỏi.
Khoảng một tuần sau khi chôn cất con trai xong, hôm nọ ông White giật mình thức dậy lúc nửa đêm, ông quờ tay sang và chẳng thấy vợ đâu. Căn phòng ngập đầy bóng tối. Bên cạnh cửa sổ có tiếng khóc nghẹn ngào. Ông White ngước cổ lên nghe ngóng.
Lên giường đi mình ơi, Ông nhẹ nhàng bảo vợ. Mình sẽ cảm lạnh mất.
Con trai tôi còn đang phải chịu lạnh hơn tôi nhiều, Bà đáp lại và càng khóc to hơn.
Rồi dần dần ông White không còn nghe tiếng khóc nữa. Chiếc giường ấm áp đã làm cơn buồn ngủ ập đến. Ông cuộn mình ngủ thiếp đi. Một tiếng kêu tuyệt vọng của vợ làm ông giật mình tỉnh giấc.
Bàn tay khỉ! Bà kêu lên như điên dại - Bàn tay khỉ.
Ông già rùng mình sợ hãi.
Nó đâu? Ông hỏi. Có chuyện gì vậy?
Bà vợ run rẩy bước lại giường.
Tôi đang cần nó, Bà nói. Ông chưa vứt nó đi đấy chứ?
Tôi để nó ở ngoài phòng khách ấy, Ông kinh ngạc đáp. - Nhưng sao vậy?
Vừa khóc vừa cười, bà White cúi xuống hôn lên má chồng.
Tôi vừa nhớ ra nó, Bà nói với giọng đứt quãng. Tại sao tôi không nghĩ đến nó sớm hơn nhỉ? Còn ông, tại sao ông cũng không nghĩ tới?
Nghĩ tới gì?
Nghĩ tới hai điều ước kia chứ còn nghĩ tới gì nữa. Chúng ta mới chỉ ước có một điều.
Thế bà không thấy như vậy là quá đủ hay sao? Ông gắt lên.
Không! Bà kêu lên đắc thắng. Chúng ta sẽ ước một điều nữa. Ông hãy đi lấy bàn tay khỉ ngay và ước cho con trai chúng ta sống lại.
Ông già ngồi bật dậy, quăng cả mền gối và run lên cầm cập.
Trời ơi, bà điên mất rồi! Ông kinh hoàng thốt lên.
Ông đi tìm bàn tay khỉ đi! Bà nghẹn ngào ra lệnh. -Tìm ngay và ước điều đó đi... Ôi, con trai của tôi!
Ông White bật diêm châm nến.
Bà đi nằm đi, ông bảo. Bà lẩm cẩm rồi đấy.
Nhưng nếu điều ước thứ nhất đã thành thì tại sao lại không thể ước điều thứ hai?
Đó chỉ là sự trùng hợp, Ông lắp bắp.
Ông đi tìm bàn tay khỉ ngay đi! Bà vừa kêu lên vừa đẩy ông ra cửa.
Sau khi bước xuống thang gác trong bóng tối, ông mò mẫm đi vào phòng khách. Vật bùa vẫn nằm ở chỗ cũ, và ông hoảng hốt khi nghĩ tới chuyện, nếu ước xong thì thằng con trai què cụt, mình mẩy đầy máu sẽ xuất hiện trước mặt ông trước khi ông kịp chạy ra khỏi căn phòng. Ông quính quáng nên không tìm ra cửa. Trán ông toát mồ hôi lạnh, ông vừa cầm chặt bàn tay khỉ vừa đi vòng qua một chiếc bàn, men theo tường và cuối cùng ra được tới hành lang. Khi trở về buồng ngủ thì ông thấy gương mặt vợ ông đã biến sắc, mặt bà tái đi một cách khác thường. Ông White bỗng nhiên thấy sợ.
Ông ước đi! Bà quát lên.
Làm thế không nên đâu bà, ông lắp bắp nói.
Ước đi! Bà nhắc lại.
Ông chồng giơ tay lên thì thầm:
Tôi muốn con trai tôi sống lại!
Vật bùa rơi xuống sàn. Ông già run rẩy nhìn theo rồi buông mình xuống ghế bành, trong khi vợ ông nhớn nhác bước tới cửa sổ và kéo rèm lên.
Ông vẫn ngồi im cho đến lúc cảm thấy lạnh, thỉnh thoảng ông liếc nhìn sang phía bà vợ đang trông ngóng cạnh cửa sổ. Ngọn nến cháy gần hết, nó hắt lên trần nhà và bốn bức tường xung quanh những cái bóng lung linh. Cuối cùng nó phả một ánh lửa sáng hơn rồi phụt tắt. Nghĩ là vật bùa, không còn tác dụng ông White cảm thấy hài lòng, thong thả lên giường nằm, và một lúc sau bà vợ ông cũng chẳng nói chẳng rằng lên nằm cạnh ông.
Cả hai im lặng lắng nghe tiếng tích tắc đồng hồ. Có tiếng cót két cầu thang. Một con chuột chạy bên tường kêu chít chít. Bóng đêm càng trở nên nặng nề. Lúc ấy, lấy hết can đảm, ông White cầm bao diêm bật một que và xuống nhà tìm nến.
Khi ông bước tới xuống chân cầu thang thì que diêm cháy hết. Đúng lúc đó ông nghe thấy tiếng gõ nhẹ ngoài cửa chính.
Ông già đánh rơi hộp diêm xuống đất và đứng như trời trồng, miệng không dám thở, cho đến khi có tiếng gõ cửa lần nữa vang lên. Thế là ông vội quay lui leo lên thang gác trở về phòng và đóng cửa lại.
Tiếng gõ cửa lần thứ ba vang lên khắp nhà.
Cái gì thế? Bà già giật mình kêu lên.
Một con chuột cống, Ông White run rẩy đáp - Nó chạy qua mặt tôi ngoài thang gác.
Bà White chồm dậy nghe ngóng. Tiếng gõ cửa lại vang lên mạnh hơn.
Herbert đấy! Bà reo to. Con trai của tôi!
Bà chạy ra cửa, nhưng ông chồng vượt lên và túm lấy tay bà.
Bà làm gì thế? Ông khản giọng hỏi.
Con trai tôi! thằng Herbert đấy! Bà kêu lên và vùng vẫy để thoát ra.
Tôi quên mất là nghĩa địa cách đây có ba cây số. Tại sao ông cản tôi? Buông tôi ra! Tôi phải ra mở cửa cho nó!
Lạy Chúa, không được mở cửa! Ông hét lên và run lập cập.
Ồ, thì ra ông sợ thằng con của ông à? Buông tôi ra!... Mẹ đây, Herbert, mẹ ra đây!
Tiếng gõ cửa vang lên từng chập. Bà vợ nhoài người thoát khỏi tay chồng và chạy ra khỏi phòng. Ông chồng chạy theo tới cầu thang, van xin bà quay trở lại, trong lúc đó bà nhảy ba bốn bậc một lúc chạy xuống dưới. Ông nghe thấy tiếng xích sắt kêu loảng xoảng và tiếng chốt dưới chân cửa lách cách. Sau đó ông nghe thấy tiếng hét lên của bà vợ.
Chốt cửa phía trên! Ông xuống mở giúp tôi với. Tôi không với tới.
Nhưng ngay lúc đó, ông White đang nằm bò ra sàn tuyệt vọng mò tìm bàn tay khỉ. Ông cầu mong tìm thấy nó trước khi con người ở ngoài kia bước vào nhà! Tiếng dập cửa ầm vang khắp nhà và ông nghe tiếng bà vợ kéo ghế kê sát cửa. Rồi tiếng chốt trên bắt đầu vang lên cót két. Đúng lúc đó ông già chộp được bàn tay khỉ, hốt hoảng lẩm nhẩm đọc điều ước cuối cùng.
Tiếng gõ cửa lập tức im bặt, mặc dù âm thanh của nó vẫn còn vang vọng trong nhà. Chiếc ghế được kéo lui và cánh cửa mở ra. Một luồng gió lạnh ùa vào cầu thang. Tiếng rên dài tuyệt vọng và đau khổ vang lên. Hai vợ chồng già chạy nhanh xuống thang gác rồi cùng lao ra cổng. Dưới ánh sáng lung linh của ngọn đèn trước nhà, con đường trải dài hun hút bóng đêm, nó vắng lặng, không một bóng người, chỉ có tiếng côn trùng rã rích thê lương.
W.W. Jacobshenwit
(sưu tầm)
(sưu tầm)
Sự tích Trầu Cau
Ngày xưa, một nhà quan lang họ Cao có hai người con trai hơn nhau một tuổi và giống nhau như in, đến lỗi người ngoài không phân biệt được ai là anh ai là em.
Năm hai anh em mười bảy mười tám tuổi thì cha mẹ đều chết cả. Hai anh em vốn đã thương yêu ngau, nay gặp cảnh hiu quạnh, lại càng yêu thương nhau hơn trước.
Không còn được cha dậy dỗ cho nữa, hai anh em đến xin học ông đạo sĩ họ Lưụ Hai anh em học hành chăm chỉ lại đứng đắn nên được thầy yêu như con. ¤ng Lưu có một cô con gái tuổi chừng mười sáu mười bảy, nhan sắc tươi tắn, con gái trong vùng không người nào sánh kịp.
Trông thấy hai anh em họ Cao vừa đẹp vừa hiền, người con gái đem lòng yêu mến, muốn kén người anh làm chồng, nhưng không biết người nào là anh, người nào là em.
Một hôm, nhân nhà nấu cháo, người con gái lấy một bát cháo và một đôi đũa mời hai người ăn. Thấy người em nhường người anh ăn, người con gái mới nhận được ai là anh, ai là em. Sau đó, người con gái nói với cha mẹ cho phép mình lấy người anh làm chồng.
Từ khi người anh có vợ thì thương yêu giữa hai anh em không được thắm thiết nữạ Người em rất là buồn, nhưng người vô tình không để ý đến.
Một hôm hai anh em cùng lên nương, tối mịt mới về, người em vào nhà trước; chàng vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì người chị dâu ở trong buồng chạy ra lầm chàng là chồng mình, vội ôm chầm lấỵ Người em liền kêu lên, cả hai đều xấu hổ. Giữa lúc ấy, người anh cũng bước vào nhà. Từ đấy người anh nghi em có tình ý với vợ mình, càng hững hờ với em hơn trước.
Một buổi chiều, anh chị đều đi vắng cả, người em ngồi một mình nhìn ra khu rừng xa xa, cảm thấy cô quạnh, lại càng buồn tủi, vùng đứng dậy ra đi.
Chàng đi, đi mãi cho đến khu rừng phía trước mặt, rồi theo đường mòn đi thẳng vào rừng âm ụ Trời bắt đầu tối, trăng đã lên, mà chàng vẫn cứ đị Đi đến một con suối rộng nước sâu và xanh biếc, chàng không lội qua được, đành ngồi nghỉ bên bờ. Chàng khóc thổn thức, tiếng suối reo và cứ reo, át cả tiếng khóc của chàng. Đêm mỗi lúc một khuya, sương xuống mỗi lúc một nhiều, sương lạnh thấm dần vào da thịt chàng, chàng chết mà vẫn ngồi trơ trơ, biến thành một tảng đá.
Người anh cùng vợ về nhà, không thấy em đâu, lẳng lặng đi tìm, không nói cho vợ biết. Theo con đường mòn vào rừng, chàng đi mãi, đi mãi, và sau cùng đến con suối xanh biếc đang chảy cuồn cuộn dưới ánh trăng và không thể lội qua được, đành ngồi bên bờ suối, tựa mình vào một tản đá. Chàng có ngờ đâu chính tảng đá là em mình! Sương vẫn xuống đều, sương lạnh rơi lã chã từ cành lá xuống. Chàng rầu rĩ khóc than hồi lâu, ngất đi và chết cứng, biến thành một cây không cành, mọc thẳng bên tảng đá.
Ở nhà, vợ không thấy chồng đâu, vội đi tìm và cũng theo con đường mòn đi vào rừng thẳm. Nàng đi mãi, bước thấp bước cao, rồi cuối cùng gặp con suối nước sâu và xanh biếc. Nàng không còn đi được nữạ Nàng ngồi tựa vào gốc cây không cành mọc bên tảng đá, vật mình than khóc. Nàng có ngờ đâu nàng đã ngồi tựa vào chồng mình và sát đó là em chồng. Nàng than khóc, nhưng tiếng suối to hơn cả tiếng than khóc của nàng. Đêm đã ngả dần về sáng, sương xuống càng nhiều, mù mịt cả núi rừng, nàng vật vã khóc than. Chưa đầy nửa đêm mà nàng đã mình gầy xác ve, thân mình dài lêu nghêu, biến thành một cây leo quấn chặt lấy cây không cành mọc bên tảng đá.
Về sau chuyện ấy đến tai mọi người, ai nấy đều thương xót. Một hôm, vua Hùng đi qua chỗ ấy, nhân dân đem chuyện ba người kể lại cho vua nghe và đến xem. Vua bảo thử lấy lá cây leo và lấy quả ở cái cây không cành nghiền với nhau xem sao, thì thấy mùi vị cay caỷ Nhai thử, thấy thơm ngon và nhổ nước vào tảng đá thì thấy bãi nước biến dần ra sắc đỏ. Nhân dân gọi cái cây mọc thẳng kia là cây cau, cây dây leo kia là cây trầu, lại lấy tảng đá ở bên đem về nung cho xốp để ăn với trầu cau, cho miệng thơm, môi đỏ.
Tình duyên của ba người tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết, cho nên trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bắt đầu mới lương duyên, và khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đã trở nên tục cố hữu của dân tộc Việt Nam.
Năm hai anh em mười bảy mười tám tuổi thì cha mẹ đều chết cả. Hai anh em vốn đã thương yêu ngau, nay gặp cảnh hiu quạnh, lại càng yêu thương nhau hơn trước.
Không còn được cha dậy dỗ cho nữa, hai anh em đến xin học ông đạo sĩ họ Lưụ Hai anh em học hành chăm chỉ lại đứng đắn nên được thầy yêu như con. ¤ng Lưu có một cô con gái tuổi chừng mười sáu mười bảy, nhan sắc tươi tắn, con gái trong vùng không người nào sánh kịp.
Trông thấy hai anh em họ Cao vừa đẹp vừa hiền, người con gái đem lòng yêu mến, muốn kén người anh làm chồng, nhưng không biết người nào là anh, người nào là em.
Một hôm, nhân nhà nấu cháo, người con gái lấy một bát cháo và một đôi đũa mời hai người ăn. Thấy người em nhường người anh ăn, người con gái mới nhận được ai là anh, ai là em. Sau đó, người con gái nói với cha mẹ cho phép mình lấy người anh làm chồng.
Từ khi người anh có vợ thì thương yêu giữa hai anh em không được thắm thiết nữạ Người em rất là buồn, nhưng người vô tình không để ý đến.
Một hôm hai anh em cùng lên nương, tối mịt mới về, người em vào nhà trước; chàng vừa bước chân qua ngưỡng cửa thì người chị dâu ở trong buồng chạy ra lầm chàng là chồng mình, vội ôm chầm lấỵ Người em liền kêu lên, cả hai đều xấu hổ. Giữa lúc ấy, người anh cũng bước vào nhà. Từ đấy người anh nghi em có tình ý với vợ mình, càng hững hờ với em hơn trước.
Một buổi chiều, anh chị đều đi vắng cả, người em ngồi một mình nhìn ra khu rừng xa xa, cảm thấy cô quạnh, lại càng buồn tủi, vùng đứng dậy ra đi.
Chàng đi, đi mãi cho đến khu rừng phía trước mặt, rồi theo đường mòn đi thẳng vào rừng âm ụ Trời bắt đầu tối, trăng đã lên, mà chàng vẫn cứ đị Đi đến một con suối rộng nước sâu và xanh biếc, chàng không lội qua được, đành ngồi nghỉ bên bờ. Chàng khóc thổn thức, tiếng suối reo và cứ reo, át cả tiếng khóc của chàng. Đêm mỗi lúc một khuya, sương xuống mỗi lúc một nhiều, sương lạnh thấm dần vào da thịt chàng, chàng chết mà vẫn ngồi trơ trơ, biến thành một tảng đá.
Người anh cùng vợ về nhà, không thấy em đâu, lẳng lặng đi tìm, không nói cho vợ biết. Theo con đường mòn vào rừng, chàng đi mãi, đi mãi, và sau cùng đến con suối xanh biếc đang chảy cuồn cuộn dưới ánh trăng và không thể lội qua được, đành ngồi bên bờ suối, tựa mình vào một tản đá. Chàng có ngờ đâu chính tảng đá là em mình! Sương vẫn xuống đều, sương lạnh rơi lã chã từ cành lá xuống. Chàng rầu rĩ khóc than hồi lâu, ngất đi và chết cứng, biến thành một cây không cành, mọc thẳng bên tảng đá.
Ở nhà, vợ không thấy chồng đâu, vội đi tìm và cũng theo con đường mòn đi vào rừng thẳm. Nàng đi mãi, bước thấp bước cao, rồi cuối cùng gặp con suối nước sâu và xanh biếc. Nàng không còn đi được nữạ Nàng ngồi tựa vào gốc cây không cành mọc bên tảng đá, vật mình than khóc. Nàng có ngờ đâu nàng đã ngồi tựa vào chồng mình và sát đó là em chồng. Nàng than khóc, nhưng tiếng suối to hơn cả tiếng than khóc của nàng. Đêm đã ngả dần về sáng, sương xuống càng nhiều, mù mịt cả núi rừng, nàng vật vã khóc than. Chưa đầy nửa đêm mà nàng đã mình gầy xác ve, thân mình dài lêu nghêu, biến thành một cây leo quấn chặt lấy cây không cành mọc bên tảng đá.
Về sau chuyện ấy đến tai mọi người, ai nấy đều thương xót. Một hôm, vua Hùng đi qua chỗ ấy, nhân dân đem chuyện ba người kể lại cho vua nghe và đến xem. Vua bảo thử lấy lá cây leo và lấy quả ở cái cây không cành nghiền với nhau xem sao, thì thấy mùi vị cay caỷ Nhai thử, thấy thơm ngon và nhổ nước vào tảng đá thì thấy bãi nước biến dần ra sắc đỏ. Nhân dân gọi cái cây mọc thẳng kia là cây cau, cây dây leo kia là cây trầu, lại lấy tảng đá ở bên đem về nung cho xốp để ăn với trầu cau, cho miệng thơm, môi đỏ.
Tình duyên của ba người tuy đã chết mà vẫn keo sơn, thắm thiết, cho nên trong mọi sự gặp gỡ của người Việt Nam, miếng trầu bao giờ cũng là đầu câu chuyện, để bắt đầu mới lương duyên, và khi có lễ nhỏ, lễ lớn, cưới xin, hội hè, tục ăn trầu đã trở nên tục cố hữu của dân tộc Việt Nam.
(sưu tầm)
Sự tích hoa Mộc Lan
Ở Nhật Bản có một người con gái tên là Câycô, mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nhà nghèo, ngay từ khi còn nhỏ nàng đã phải tự đi làm để kiếm sống.
Một cô bé như nàng phỏng có thể làm được việc gì? Nàng phải làm hoa giấy đem ra phố bán. Nhưng hoa bán đã nhiều, mà tiền thu về chẳng đáng là bao. Khi đã ra dáng một thiếu nữ. Câycô cũng không có đủ tiền sắm nổi một bộ Kimônô mà các cô con nhà quý phái vẫn mặc.
Một đêm nọ, khi Câycô đang mải làm việc trong phòng của mình, bỗng có một con vẹt bay đến đậu trên bậc cửa sổ bỏ ngỏ. Đôi cánh màu xanh của nó đã nhợt nhạt, có lẽ nó đã già song vẫn còn đủ minh mẫn và biết nói tiếng người.
- Đừng đuổi ta, ta sẽ tiết lộ cho nàng một điều bí mật về cách làm giàu.
- Vẹt yêu quí ơi, cớ sao ta lại đuổi mi - Câycô buồn bã mỉm cười - ở đời ta chẳng còn biết thổ lộ tâm tình với ai, thế mà mi lại nói được tiếng người. Cứ ở lại đây, cùng chia nghèo, sẻ khổ với ta, còn sự giàu sang, phú quý, tốt nhất là chẳng nên màng tới, vì ta rất xa lạ với chuyện ấy.
- Đa tạ Câycô tốt bụng - Vẹt gật gù - Trước khi đi tìm chủ mới, ta đã chăm chú theo dõi các cô gái bán hoa, và ta đã thấy nàng tặng bông hoa đẹp nhất của mình cho một cô gái nghèo như thế nào rồi. Cô gái nghèo ấy không có tiền nhưng lại rất muốn làm cho người bà ốm yếu của mình được thanh thản nỗi lòng.
Nhưng vì sao ngươi lại phải đi tìm chủ mới? - Câycô hỏi - Phải chăng chủ cũ không tốt với mi?
- Bà ta đã qua đời - Vẹt đau đớn báo tin, rồi im lặng giây lát - Bà ta chết vì tham lam.
- Bà ấy nghèo lắm à? - Câycô hỏi tiếp.
- Không, rất giàu là đằng khác. Song với bà, như thế còn quá ít. Bà đã bán đến giọt máu cuối cùng để lấy vàng - Vẹt nguẩy mỏ vẻ trách móc.
- Đổi máu lấy vàng là thế nào, ta không hiểu? - Câycô ngạc nhiên.
- Chuyện là thế này. Bà chủ của ta cũng làm nghề bán hoa giấy như nàng, song có một mụ phù thuỷ đã tiết lộ cho bà một bí mật về cách làm cho hoa giả trở thành hoa tươi, nghĩa là phải lấy máu của mình tiếp sức cho các cành hoa. Chính nàng cũng thừa hiểu hoa tươi quý như thế nào rồi. Chẳng bao lâu bà chủ trở nên giàu có. Lúc đó mụ phù thủy đã báo trước cho bà ta rằng, dù thế nào cũng chớ có hiến đến giọt máu cuối cùng. Nhưng với bà chủ của ta, dầu có tích góp được bao nhiêu của cải cũng vẫn cứ là ít. Và thế là khi có một vị khách ngoại bang hứa cho bà một khoản tiền lớn nếu bà bằng lòng tiếp thêm sinh lực cho hoa. Bà chủ đã không ngần ngại ngay cả đến giọt máu cuối cùng để có thêm nhiều tiền và bà đã phải chuốc lấy cái chết. Số của cải bà để lại trở thành miếng mồi ngon cho đám họ hàng xâu xé nhau.
- Thật là khủng khiếp! - Câycô thốt lên - Vì sao mi không ngăn cản bà ta?
- Rơi vào hoàn cảnh ấy, người ta khó mà sáng suốt - Vẹt phàn nàn. - Ta đã thẳng thắn khuyên nhủ bà đừng hành động một cách ngu ngốc, song bà trả lời như thế nào, nàng biết không? "Ta đã chán ngấy những lời đường mật của họ nhà Vẹt rồi!" bà chủ nói thế đấy.
- Vẹt già tốt bụng ơi, hãy ở lại đây với ta và làm cố vấn cho ta - Câycô gợi ý. Vẹt cảm thấy hởi lòng, hởi dạ.
Sau khi bán được ít hoa tươi đầu tiên, Câycô liền mua ngay một bộ Kimônô lụa và một đôi dép thật đẹp. Nàng chải lại mái tóc đen mượt và cài lên đó một bông hồng đỏ thắm rồi đi ra phố. Từ bóng cửa sổ xa xa, nàng nhìn thấy một cô gái xinh đẹp. Câycô gật đầu chào. Cô gái cũng gật đầu chào lại. Hai người cùng mỉm cười với nhau. Câycô đoán rằng cô gái đó có lẽ là hình bóng của nàng được phản chiếu vào gương.
Câycô nhanh chóng hoà vào dòng người trẻ tuổi, và lần đầu tiên trong đời nàng, được đặt chân tới một gian phòng rực rỡ ánh đèn, nơi có từng cặp trai gái đang nhảy múa uyển chuyển như chim bay, bướm lượn. Có một chàng trai đến mời Câycô. Nàng vừa nhảy vừa mỉm cười một cách sung sướng. Chàng trai khiến nàng thích thú nhất ấy có tên là Aratumi.
- Câycô ơi! - Aratumi nói, - Em đẹp khác nào một đoá hoa Anh Đào nở chúm chím. Hãy nói đi, biệt thự nhà em ở đâu và vì sao một cô gái sang trọng như em lại đến nơi vũ hội của đám sinh viên nghèo hèn này?
Câycô toan thú nhận nàng chỉ là một cô gái nghèo rớt đang sống trong một căn nhà dột nát, nhưng nàng chợt nhớ tới nhan sắc tuyệt trần của mình, nàng hình dung ngay việc nàng sẽ nhanh chóng trở nên giàu có và sẽ xây được biệt thự ra sao. Chính bản thân Câycô cũng không nhận thấy nàng đã vẽ ra trước mắt chàng trai mơ ước của mình về một toà biệt thự y như thật. Khi nàng im lặng, Artumi thở dài nói:
- Đáng tiếc là em giàu có như vậy. Một chàng sinh viên nghèo đâu dám đặt chân tới toà biệt thự, vậy mà anh lại cứ muốn được trông thấy em.
Câycô không dám thú nhận rằng nàng không hề có biệt thự nào cả. Song nàng cũng rất muốn gặp lại Aratumi và ngỏ ý rằng, hôm khác nàng sẽ tới công viên thành phố dạo chơi.
Khi Câycô và Aratumi gặp nhau ở công viên, họ cầm tay nhau cùng bước đi trên những con đường nhỏ, và kỳ diệu thay, từ lúc nào cặp môi của họ đã xoắn xuýt với nhau trong một cái hôn dài.
- Câycô, Câycô của anh! - Aratumi thì thào - nhưng mặt chàng lập tức sa sầm lại - Đó phải chăng là một cái hôn vĩnh biệt? Vì cha em sẽ không cho phép em được làm vợ một sinh viên nghèo.
Câycô bắt đầu khóc lóc và nàng đành thú nhận rằng, biệt thự, đó chỉ là chuyện nàng bịa ra, rằng nàng chỉ là một cô gái bình thường chuyên nghề làm hoa giấy đem ra phố bán.
Nếu Câycô thấy được nét mặt Artumi thay đổi như thế nào thì chắc hẳn nàng đã không tiết lộ cho chàng biết điều bí mật của đời mình. Nhưng vì xấu hổ, nàng đã nhắm nghiền mắt lại. Còn Aratumi, sau khi nghe chuyện nàng, đã vội nắm lấy bàn tay nàng. Chàng thậm chí còn tỏ ra vui vẻ, bởi sắc đẹp của Câycô sẽ hứa hẹn một sự giàu có vô biên.
Cô gái Câycô mảnh khảnh bắt đầu những ngày lao động cật lực. Cần phải làm thật nhiều hoa, đặc biệt làm thêm hoa tươi nhiều hơn nữa, rồi đem bán đi để mua một ngôi nhà nhỏ. Họ sẽ sống ở đó sau khi cưới. Nàng sẽ mua thêm thảm, tranh, đồ sứ cùng những bộ quần áo mới cho mình và cho chồng. Một buổi chiều, Vẹt nói như muốn thức tỉnh cô gái:
- Câycô ơi, nàng đang tiêu phí máu mình một cách quá dễ dãi đấy!
- Ôi, anh bạn Vẹt già đáng yêu của ta! - Câycô vuốt đầu Vẹt - khi Aratumi học hành xong, chàng sẽ kiếm đủ tiền và ta sẽ được nghỉ ngơi.
Nhưng khi hai người vừa tổ chức xong lễ cưới thì Aratumi cũng bỏ luôn trường lớp, vì chàng chẳng thiết theo đuổi đèn sách nữa.
- Anh chỉ thích được xem những ngón tay nhỏ nhắn của em trổ tài khéo léo và duyên dáng khi em làm hoa thôi.
Nghe những lời nói ngon ngọt của chồng, nàng cảm thấy thật sung sướng. Nhưng chỉ vài năm sau, ngôi nhà bé nhỏ kia đối với Aratumi thật quá xuềnh xoàng. Nhiều lần chàng nói với vợ:
- Tất thảy chúng bạn của anh đều sống rất sung túc. Trước họ anh cảm thấy rất ngượng.
Và những ngón tay của Câycô lại làm việc miệt mài hơn. Để có được một ngôi nhà khang trang ngày tháng sao ngắn ngủi thế. Cứ chiều chiều, khi Câycô đi bán hoa ngoài phố thì Aratumi ngồi một mình bên ấm trà. Chàng còn biết làm gì vào lúc này?
- Câycô ơi, Câycô - Vẹt lắc đầu buồn bã mỗi khi chủ của nó trở về nhà ngồi vào chỗ làm việc với dáng vẻ mệt mỏi.
Còn chàng Aratumi nghèo khổ lúc nào cũng chỉ thích sống trong một biệt thự. Chàng cho rằng Câycô đã lừa dối chàng. Nàng đã hứa với chàng sẽ có một chỗ ở khang trang, vậy mà cho đến giờ chàng vẫn cứ phải chui rúc trong túp lều tồi tàn. Câycô cảm thấy mình có lỗi, bởi nàng càng ngày càng thêm yêu Aratumi.
- Chúng ta sẽ có biệt thự, nàng cam kết với chàng như vậy, và càng rút ngắn bớt thời gian nghỉ ngơi của mình.
- Câycô ơi, hãy cẩn thận, - Vẹt báo trước - Nàng đã quá yếu rồi, máu trong tim nàng còn lại rất ít đấy.
- Bạn ơi, chúng ta sắp có biệt thự rồi, lúc đó ta sẽ bắt đầu đầu sống như một bà hoàng - Câycô nói.
Lời đồn đại về cô gái bán hoa bé bỏng có tên là Câycô lan truyền khắp gần xa. Magơnon, một nhà kinh doanh hoa người Pháp đã lặn lội sang tận Nhật Bản để mua hoa của Câycô. Đối với Magơnon, chỉ có hoa không, chưa đủ. Ông hứa sẽ cho Câycô một khoản tiền lớn nếu nàng làm cho những bông hoa cùng với gốc của chúng trở thành hoa thật. Hơn nữa, chúng phải có đủ bốn màu: trắng, vàng, hồng và đỏ.
Câycô đã bán cho Magơnon đủ các loại hoa và vào phút chót nàng còn làm thêm một bông hoa đỏ chói có cả cành lẫn gốc. Nhưng nàng cũng không còn đủ sức để trích đầu ngón tay của mình và dùng máu tiếp sức cho rễ hoa nữa.
- Câycô, Câycô ơi! - Vẹt hét lên một cảnh thảm thiết, - chớ có cho giọt máu cuối cùng!
- Thôi đủ rồi, anh bạn già ạ, loài Vẹt nhà mi chỉ quen khoác lác thôi - Aratumi dúi đầu Vẹt xuống và túm lấy cánh nó ném sang phòng khác.
- Aratumi yêu quý, em chỉ còn giọt máu cuối cùng thôi. - Câycô lặng lẽ nhìn vào mắt chồng.
- Ta cần một bông hoa đỏ, đỏ thật sự - Magơnon hồi hộp nói - Ta sẽ không tiếc tiền, miễn là nàng làm cho bông hoa đỏ này thành bông hoa thật.
- Câycô, em cần phải hiểu rằng điều đó có ý nghĩa đối với chúng ta lắm chứ? Aratumi lắc mạnh vai vợ - Em có hiểu không, đời sẽ thế nào nếu chúng ta sẽ có một tòa biệt thự? Tòa biệt thự mà em đã hứa với anh đó!
Sau khi lấy hết hơi tàn sức kiệt, Câycô chích đầu ngón tay mình, vắt ra giọt máu cuối cùng tiếp sức cho rễ bông hoa đỏ.
Aratumi xây xong toà biệt thự và cưới một cô vợ khác. Magơnon mang những bông hoa tươi rói về Pháp và đặt tên cho nó là Magơnôlia, nghĩa là "Hoa Mộc Lan", Còn nàng Câycô thì sao? Nàng đã lùi vào những trang huyền thoại của loài người.
Một cô bé như nàng phỏng có thể làm được việc gì? Nàng phải làm hoa giấy đem ra phố bán. Nhưng hoa bán đã nhiều, mà tiền thu về chẳng đáng là bao. Khi đã ra dáng một thiếu nữ. Câycô cũng không có đủ tiền sắm nổi một bộ Kimônô mà các cô con nhà quý phái vẫn mặc.
Một đêm nọ, khi Câycô đang mải làm việc trong phòng của mình, bỗng có một con vẹt bay đến đậu trên bậc cửa sổ bỏ ngỏ. Đôi cánh màu xanh của nó đã nhợt nhạt, có lẽ nó đã già song vẫn còn đủ minh mẫn và biết nói tiếng người.
- Đừng đuổi ta, ta sẽ tiết lộ cho nàng một điều bí mật về cách làm giàu.
- Vẹt yêu quí ơi, cớ sao ta lại đuổi mi - Câycô buồn bã mỉm cười - ở đời ta chẳng còn biết thổ lộ tâm tình với ai, thế mà mi lại nói được tiếng người. Cứ ở lại đây, cùng chia nghèo, sẻ khổ với ta, còn sự giàu sang, phú quý, tốt nhất là chẳng nên màng tới, vì ta rất xa lạ với chuyện ấy.
- Đa tạ Câycô tốt bụng - Vẹt gật gù - Trước khi đi tìm chủ mới, ta đã chăm chú theo dõi các cô gái bán hoa, và ta đã thấy nàng tặng bông hoa đẹp nhất của mình cho một cô gái nghèo như thế nào rồi. Cô gái nghèo ấy không có tiền nhưng lại rất muốn làm cho người bà ốm yếu của mình được thanh thản nỗi lòng.
Nhưng vì sao ngươi lại phải đi tìm chủ mới? - Câycô hỏi - Phải chăng chủ cũ không tốt với mi?
- Bà ta đã qua đời - Vẹt đau đớn báo tin, rồi im lặng giây lát - Bà ta chết vì tham lam.
- Bà ấy nghèo lắm à? - Câycô hỏi tiếp.
- Không, rất giàu là đằng khác. Song với bà, như thế còn quá ít. Bà đã bán đến giọt máu cuối cùng để lấy vàng - Vẹt nguẩy mỏ vẻ trách móc.
- Đổi máu lấy vàng là thế nào, ta không hiểu? - Câycô ngạc nhiên.
- Chuyện là thế này. Bà chủ của ta cũng làm nghề bán hoa giấy như nàng, song có một mụ phù thuỷ đã tiết lộ cho bà một bí mật về cách làm cho hoa giả trở thành hoa tươi, nghĩa là phải lấy máu của mình tiếp sức cho các cành hoa. Chính nàng cũng thừa hiểu hoa tươi quý như thế nào rồi. Chẳng bao lâu bà chủ trở nên giàu có. Lúc đó mụ phù thủy đã báo trước cho bà ta rằng, dù thế nào cũng chớ có hiến đến giọt máu cuối cùng. Nhưng với bà chủ của ta, dầu có tích góp được bao nhiêu của cải cũng vẫn cứ là ít. Và thế là khi có một vị khách ngoại bang hứa cho bà một khoản tiền lớn nếu bà bằng lòng tiếp thêm sinh lực cho hoa. Bà chủ đã không ngần ngại ngay cả đến giọt máu cuối cùng để có thêm nhiều tiền và bà đã phải chuốc lấy cái chết. Số của cải bà để lại trở thành miếng mồi ngon cho đám họ hàng xâu xé nhau.
- Thật là khủng khiếp! - Câycô thốt lên - Vì sao mi không ngăn cản bà ta?
- Rơi vào hoàn cảnh ấy, người ta khó mà sáng suốt - Vẹt phàn nàn. - Ta đã thẳng thắn khuyên nhủ bà đừng hành động một cách ngu ngốc, song bà trả lời như thế nào, nàng biết không? "Ta đã chán ngấy những lời đường mật của họ nhà Vẹt rồi!" bà chủ nói thế đấy.
- Vẹt già tốt bụng ơi, hãy ở lại đây với ta và làm cố vấn cho ta - Câycô gợi ý. Vẹt cảm thấy hởi lòng, hởi dạ.
Sau khi bán được ít hoa tươi đầu tiên, Câycô liền mua ngay một bộ Kimônô lụa và một đôi dép thật đẹp. Nàng chải lại mái tóc đen mượt và cài lên đó một bông hồng đỏ thắm rồi đi ra phố. Từ bóng cửa sổ xa xa, nàng nhìn thấy một cô gái xinh đẹp. Câycô gật đầu chào. Cô gái cũng gật đầu chào lại. Hai người cùng mỉm cười với nhau. Câycô đoán rằng cô gái đó có lẽ là hình bóng của nàng được phản chiếu vào gương.
Câycô nhanh chóng hoà vào dòng người trẻ tuổi, và lần đầu tiên trong đời nàng, được đặt chân tới một gian phòng rực rỡ ánh đèn, nơi có từng cặp trai gái đang nhảy múa uyển chuyển như chim bay, bướm lượn. Có một chàng trai đến mời Câycô. Nàng vừa nhảy vừa mỉm cười một cách sung sướng. Chàng trai khiến nàng thích thú nhất ấy có tên là Aratumi.
- Câycô ơi! - Aratumi nói, - Em đẹp khác nào một đoá hoa Anh Đào nở chúm chím. Hãy nói đi, biệt thự nhà em ở đâu và vì sao một cô gái sang trọng như em lại đến nơi vũ hội của đám sinh viên nghèo hèn này?
Câycô toan thú nhận nàng chỉ là một cô gái nghèo rớt đang sống trong một căn nhà dột nát, nhưng nàng chợt nhớ tới nhan sắc tuyệt trần của mình, nàng hình dung ngay việc nàng sẽ nhanh chóng trở nên giàu có và sẽ xây được biệt thự ra sao. Chính bản thân Câycô cũng không nhận thấy nàng đã vẽ ra trước mắt chàng trai mơ ước của mình về một toà biệt thự y như thật. Khi nàng im lặng, Artumi thở dài nói:
- Đáng tiếc là em giàu có như vậy. Một chàng sinh viên nghèo đâu dám đặt chân tới toà biệt thự, vậy mà anh lại cứ muốn được trông thấy em.
Câycô không dám thú nhận rằng nàng không hề có biệt thự nào cả. Song nàng cũng rất muốn gặp lại Aratumi và ngỏ ý rằng, hôm khác nàng sẽ tới công viên thành phố dạo chơi.
Khi Câycô và Aratumi gặp nhau ở công viên, họ cầm tay nhau cùng bước đi trên những con đường nhỏ, và kỳ diệu thay, từ lúc nào cặp môi của họ đã xoắn xuýt với nhau trong một cái hôn dài.
- Câycô, Câycô của anh! - Aratumi thì thào - nhưng mặt chàng lập tức sa sầm lại - Đó phải chăng là một cái hôn vĩnh biệt? Vì cha em sẽ không cho phép em được làm vợ một sinh viên nghèo.
Câycô bắt đầu khóc lóc và nàng đành thú nhận rằng, biệt thự, đó chỉ là chuyện nàng bịa ra, rằng nàng chỉ là một cô gái bình thường chuyên nghề làm hoa giấy đem ra phố bán.
Nếu Câycô thấy được nét mặt Artumi thay đổi như thế nào thì chắc hẳn nàng đã không tiết lộ cho chàng biết điều bí mật của đời mình. Nhưng vì xấu hổ, nàng đã nhắm nghiền mắt lại. Còn Aratumi, sau khi nghe chuyện nàng, đã vội nắm lấy bàn tay nàng. Chàng thậm chí còn tỏ ra vui vẻ, bởi sắc đẹp của Câycô sẽ hứa hẹn một sự giàu có vô biên.
Cô gái Câycô mảnh khảnh bắt đầu những ngày lao động cật lực. Cần phải làm thật nhiều hoa, đặc biệt làm thêm hoa tươi nhiều hơn nữa, rồi đem bán đi để mua một ngôi nhà nhỏ. Họ sẽ sống ở đó sau khi cưới. Nàng sẽ mua thêm thảm, tranh, đồ sứ cùng những bộ quần áo mới cho mình và cho chồng. Một buổi chiều, Vẹt nói như muốn thức tỉnh cô gái:
- Câycô ơi, nàng đang tiêu phí máu mình một cách quá dễ dãi đấy!
- Ôi, anh bạn Vẹt già đáng yêu của ta! - Câycô vuốt đầu Vẹt - khi Aratumi học hành xong, chàng sẽ kiếm đủ tiền và ta sẽ được nghỉ ngơi.
Nhưng khi hai người vừa tổ chức xong lễ cưới thì Aratumi cũng bỏ luôn trường lớp, vì chàng chẳng thiết theo đuổi đèn sách nữa.
- Anh chỉ thích được xem những ngón tay nhỏ nhắn của em trổ tài khéo léo và duyên dáng khi em làm hoa thôi.
Nghe những lời nói ngon ngọt của chồng, nàng cảm thấy thật sung sướng. Nhưng chỉ vài năm sau, ngôi nhà bé nhỏ kia đối với Aratumi thật quá xuềnh xoàng. Nhiều lần chàng nói với vợ:
- Tất thảy chúng bạn của anh đều sống rất sung túc. Trước họ anh cảm thấy rất ngượng.
Và những ngón tay của Câycô lại làm việc miệt mài hơn. Để có được một ngôi nhà khang trang ngày tháng sao ngắn ngủi thế. Cứ chiều chiều, khi Câycô đi bán hoa ngoài phố thì Aratumi ngồi một mình bên ấm trà. Chàng còn biết làm gì vào lúc này?
- Câycô ơi, Câycô - Vẹt lắc đầu buồn bã mỗi khi chủ của nó trở về nhà ngồi vào chỗ làm việc với dáng vẻ mệt mỏi.
Còn chàng Aratumi nghèo khổ lúc nào cũng chỉ thích sống trong một biệt thự. Chàng cho rằng Câycô đã lừa dối chàng. Nàng đã hứa với chàng sẽ có một chỗ ở khang trang, vậy mà cho đến giờ chàng vẫn cứ phải chui rúc trong túp lều tồi tàn. Câycô cảm thấy mình có lỗi, bởi nàng càng ngày càng thêm yêu Aratumi.
- Chúng ta sẽ có biệt thự, nàng cam kết với chàng như vậy, và càng rút ngắn bớt thời gian nghỉ ngơi của mình.
- Câycô ơi, hãy cẩn thận, - Vẹt báo trước - Nàng đã quá yếu rồi, máu trong tim nàng còn lại rất ít đấy.
- Bạn ơi, chúng ta sắp có biệt thự rồi, lúc đó ta sẽ bắt đầu đầu sống như một bà hoàng - Câycô nói.
Lời đồn đại về cô gái bán hoa bé bỏng có tên là Câycô lan truyền khắp gần xa. Magơnon, một nhà kinh doanh hoa người Pháp đã lặn lội sang tận Nhật Bản để mua hoa của Câycô. Đối với Magơnon, chỉ có hoa không, chưa đủ. Ông hứa sẽ cho Câycô một khoản tiền lớn nếu nàng làm cho những bông hoa cùng với gốc của chúng trở thành hoa thật. Hơn nữa, chúng phải có đủ bốn màu: trắng, vàng, hồng và đỏ.
Câycô đã bán cho Magơnon đủ các loại hoa và vào phút chót nàng còn làm thêm một bông hoa đỏ chói có cả cành lẫn gốc. Nhưng nàng cũng không còn đủ sức để trích đầu ngón tay của mình và dùng máu tiếp sức cho rễ hoa nữa.
- Câycô, Câycô ơi! - Vẹt hét lên một cảnh thảm thiết, - chớ có cho giọt máu cuối cùng!
- Thôi đủ rồi, anh bạn già ạ, loài Vẹt nhà mi chỉ quen khoác lác thôi - Aratumi dúi đầu Vẹt xuống và túm lấy cánh nó ném sang phòng khác.
- Aratumi yêu quý, em chỉ còn giọt máu cuối cùng thôi. - Câycô lặng lẽ nhìn vào mắt chồng.
- Ta cần một bông hoa đỏ, đỏ thật sự - Magơnon hồi hộp nói - Ta sẽ không tiếc tiền, miễn là nàng làm cho bông hoa đỏ này thành bông hoa thật.
- Câycô, em cần phải hiểu rằng điều đó có ý nghĩa đối với chúng ta lắm chứ? Aratumi lắc mạnh vai vợ - Em có hiểu không, đời sẽ thế nào nếu chúng ta sẽ có một tòa biệt thự? Tòa biệt thự mà em đã hứa với anh đó!
Sau khi lấy hết hơi tàn sức kiệt, Câycô chích đầu ngón tay mình, vắt ra giọt máu cuối cùng tiếp sức cho rễ bông hoa đỏ.
Aratumi xây xong toà biệt thự và cưới một cô vợ khác. Magơnon mang những bông hoa tươi rói về Pháp và đặt tên cho nó là Magơnôlia, nghĩa là "Hoa Mộc Lan", Còn nàng Câycô thì sao? Nàng đã lùi vào những trang huyền thoại của loài người.
(sưu tầm)



