Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh dưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn dinh dưỡng. Hiển thị tất cả bài đăng
Những rau quả dễ nhiễm thuốc trừ sâu
Nếu bạn đang ăn món rau cần tây “phi hữu cơ” (có dùng phân bón, thuốc trừ sâu), cơ thể bạn có thể đã phải tiêu hóa thêm tới 67 loại thuốc trừ sâu, theo một báo cáo mới nhất của Nhóm Làm việc vì môi trường Mỹ (EWG).
Tổ chức phi lợi nhuận này luôn tập trung vào các vấn đề sức khỏe cộng đồng, đã truy tìm gần 100.000 báo cáo về thuốc trừ sâu của Bộ Nông nghiệp Mỹ và tổ chức Quản lý Thực phẩm và Thuốc Mỹ nhằm xác định xem những loại quả và rau nào có nguy cơ dư thừa hóa chất nhiều nhất và ít nhất.
Những rau quả dễ và khó nhiễm thuốc trừ sâu
Trong đó các loại rau quả bẩn nhất đều có chứa 47-67 loại thuốc trừ sâu trong mỗi khẩu phần. Những thực phẩm này được cho là có nguy cơ cao vì vỏ mềm và dễ hấp thụ nhiều thuốc trừ sâu hơn. Đó là 12 rau quả sau:
- Cần tây
- Đào
- Dâu tây
- Táo
- Nam việt quất
- Quả xuân đào
- Ớt chuông ngọt
- Rau chân vịt
- Quả anh đào
- Khoai tây
- Nho nhập khẩu
- Xà lách
Không phải tất cả các loại rau quả “phi hữu cơ” đều có hàm lượng thuốc trừ sâu cao. Một số rau quả có một lớp vỏ rất mạnh mà có thể chống lại được sự ô nhiễm thuốc trừ sâu. Đó là 15 rau quả sạch (có rất ít hoặc không có thuốc trừ sâu) dù là trồng hữu cơ hay “phi hữu cơ”:
- Hành tây
- Quả bơ
- Ngô ngọt
- Dứa
- Xoài
- Lê ngọt
- Măng tây
- Quả kiwi
- Bắp cải
- Quả cà
- Dưa vàng
- Dưa hấu
- Bưởi chùm
- Khoai lang
- Hành ngọt
Thuốc trừ sâu là gì?
Thuốc trừ sâu là sự pha trộn của các hóa chất dùng để tiêu diệt hay ngăn chặn các loài côn trùng, bệnh tật và cỏ dại mà có thể ảnh hưởng tới mùa màng. Theo khảo sát, 45% vụ mùa trên toàn thế giới có thể bị đe dọa mất trắng do các yếu tố kể trên và vì thế nông dân phải tính tới việc dùng thuốc trừ sâu.
Vậy một lượng nhỏ thuốc trừ sâu có gây hại cho cơ thể?
Theo khuyến nghị chính thức của Chính phủ Mỹ: việc nạp một lượng nhỏ thuốc trừ sâu không gây hại nhưng một số nghiên cứu lại chỉ ra sự liên quan giữa thuốc trừ sâu và các vấn đề sức khỏe như ung thư, chứng tăng động giảm chú ý và các rối loạn thần kinh; đặc biệt, nếu tiếp xúc nhiều sẽ gây suy yếu hệ miễn dịch.
Một số bác sĩ cảnh báo rằng sự tăng trưởng của não bộ trẻ em có thể bị tổn thương do thuốc trừ sâu trong thực phẩm. “Não bộ của một đứa trẻ phát triển rất nhanh, với tốc độ phi thường, và nếu thuốc trừ sâu vào được não, nó có thể gây tổn thương nghiêm trọng não bộ”, BS Phillip Landrigan, chủ tịch Khoa phòng ngừa, Trường Y Mount Sinai (Mỹ), nói.
Có thể rửa trôi thuốc trừ sâu?
Không hẳn. Các thử nghiệm cho thấy có một số loại thuốc trừ sâu tìm thấy trên bề mặt rau quả nhưng một số khác lại theo rễ đi vào các bộ phận khác của cây trồng và vì thế không thể rửa sạch.
“Rửa không giải quyết được vấn đề nhưng gọt vỏ có thể giúp giảm thiểu lượng thuốc sâu đưa vào cơ thể”, BS Landrigan khuyên.
Tất cả các loại rau quả tươi, có hay không phun thuốc trừ sâu trong quá trình trồng trọt, đều cần được rửa dưới vòi nước chảy để gột sạch bụi bẩn và các vi khuẩn có hại. Và các chuyên gia sức khỏe đồng ý rằng nếu ăn các loại rau quả có trong danh sách “Mười hai loại rau quả bẩn” thì tốt nhất là nên chọn loại được trồng hữu cơ.
“Nếu đủ khả năng, chỉ nên ăn rau quả hữu cơ bởi chỉ cần ăn các thực phẩm sạch này trong 2 tuần là giảm 95% lượng thuốc trừ sâu trong cơ thể”, Landrigan nói.
“Thuốc trừ sâu được tạo ra để tiêu diệt nhiều thứ. Tại sao chúng ta phải đợi tới 20 năm mới phát hiện ra rằng chúng không tốt cho sức khỏe con người”, Amy Rosenthal, làm việc tại EWG nhấn mạnh.
Tổ chức phi lợi nhuận này luôn tập trung vào các vấn đề sức khỏe cộng đồng, đã truy tìm gần 100.000 báo cáo về thuốc trừ sâu của Bộ Nông nghiệp Mỹ và tổ chức Quản lý Thực phẩm và Thuốc Mỹ nhằm xác định xem những loại quả và rau nào có nguy cơ dư thừa hóa chất nhiều nhất và ít nhất.
Những rau quả dễ và khó nhiễm thuốc trừ sâu
Trong đó các loại rau quả bẩn nhất đều có chứa 47-67 loại thuốc trừ sâu trong mỗi khẩu phần. Những thực phẩm này được cho là có nguy cơ cao vì vỏ mềm và dễ hấp thụ nhiều thuốc trừ sâu hơn. Đó là 12 rau quả sau:
- Cần tây
- Đào
- Dâu tây
- Táo
- Nam việt quất
- Quả xuân đào
- Ớt chuông ngọt
- Rau chân vịt
- Quả anh đào
- Khoai tây
- Nho nhập khẩu
- Xà lách
Không phải tất cả các loại rau quả “phi hữu cơ” đều có hàm lượng thuốc trừ sâu cao. Một số rau quả có một lớp vỏ rất mạnh mà có thể chống lại được sự ô nhiễm thuốc trừ sâu. Đó là 15 rau quả sạch (có rất ít hoặc không có thuốc trừ sâu) dù là trồng hữu cơ hay “phi hữu cơ”:
- Hành tây
- Quả bơ
- Ngô ngọt
- Dứa
- Xoài
- Lê ngọt
- Măng tây
- Quả kiwi
- Bắp cải
- Quả cà
- Dưa vàng
- Dưa hấu
- Bưởi chùm
- Khoai lang
- Hành ngọt
Thuốc trừ sâu là gì?
Thuốc trừ sâu là sự pha trộn của các hóa chất dùng để tiêu diệt hay ngăn chặn các loài côn trùng, bệnh tật và cỏ dại mà có thể ảnh hưởng tới mùa màng. Theo khảo sát, 45% vụ mùa trên toàn thế giới có thể bị đe dọa mất trắng do các yếu tố kể trên và vì thế nông dân phải tính tới việc dùng thuốc trừ sâu.
Vậy một lượng nhỏ thuốc trừ sâu có gây hại cho cơ thể?
Theo khuyến nghị chính thức của Chính phủ Mỹ: việc nạp một lượng nhỏ thuốc trừ sâu không gây hại nhưng một số nghiên cứu lại chỉ ra sự liên quan giữa thuốc trừ sâu và các vấn đề sức khỏe như ung thư, chứng tăng động giảm chú ý và các rối loạn thần kinh; đặc biệt, nếu tiếp xúc nhiều sẽ gây suy yếu hệ miễn dịch.
Một số bác sĩ cảnh báo rằng sự tăng trưởng của não bộ trẻ em có thể bị tổn thương do thuốc trừ sâu trong thực phẩm. “Não bộ của một đứa trẻ phát triển rất nhanh, với tốc độ phi thường, và nếu thuốc trừ sâu vào được não, nó có thể gây tổn thương nghiêm trọng não bộ”, BS Phillip Landrigan, chủ tịch Khoa phòng ngừa, Trường Y Mount Sinai (Mỹ), nói.
Có thể rửa trôi thuốc trừ sâu?
Không hẳn. Các thử nghiệm cho thấy có một số loại thuốc trừ sâu tìm thấy trên bề mặt rau quả nhưng một số khác lại theo rễ đi vào các bộ phận khác của cây trồng và vì thế không thể rửa sạch.
“Rửa không giải quyết được vấn đề nhưng gọt vỏ có thể giúp giảm thiểu lượng thuốc sâu đưa vào cơ thể”, BS Landrigan khuyên.
Tất cả các loại rau quả tươi, có hay không phun thuốc trừ sâu trong quá trình trồng trọt, đều cần được rửa dưới vòi nước chảy để gột sạch bụi bẩn và các vi khuẩn có hại. Và các chuyên gia sức khỏe đồng ý rằng nếu ăn các loại rau quả có trong danh sách “Mười hai loại rau quả bẩn” thì tốt nhất là nên chọn loại được trồng hữu cơ.
“Nếu đủ khả năng, chỉ nên ăn rau quả hữu cơ bởi chỉ cần ăn các thực phẩm sạch này trong 2 tuần là giảm 95% lượng thuốc trừ sâu trong cơ thể”, Landrigan nói.
“Thuốc trừ sâu được tạo ra để tiêu diệt nhiều thứ. Tại sao chúng ta phải đợi tới 20 năm mới phát hiện ra rằng chúng không tốt cho sức khỏe con người”, Amy Rosenthal, làm việc tại EWG nhấn mạnh.
Nhân Hà
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
7 Quan niệm chưa đúng khi ăn trứng
Không quá cầu kỳ trong chế biến hay tốn quá nhiều thời gian để có ngay những món thơm ngon và bổ dưỡng từ trứng. Tuy nhiên, nếu chế biến không đúng cách sẽ gây hiệu quả ngược, thậm chí có hại cho sức khỏe.
1. Cho đường vào trứng
Cách làm này khiến protein trong trứng gà kết hợp với axit amoni trong đường glu-cô-zơ tạo thành hợp chất khó hấp thu, gây cảm giác khó tiêu, ợ chua, không tốt cho sức khỏe.
2. Ăn trứng gà sống là bổ nhất
Rất nhiều người cho rằng, ăn trứng gà tươi sống có tác dụng nhuận phổi, nhuận tràng, bổ sung nhanh chóng dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, tốt cho cổ họng… Tuy nhiên, trên thực tế, cách làm này không mấy vệ sinh bởi các loại vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh truyền nhiễm sẽ trực tiếp xâm nhập vào cơ thể dễ dàng hơn.
Trứng gà sống có chứa nhiều avidin. Lượng chất này quá dư thừa trong cơ thể làm chúng ta không có cảm giác thèm ăn, mệt mỏi, đau cơ bắp, da sưng dộp, rụng lông mày…
Kết cấu protein trong trứng gà sống vô cùng "chắc", chứa nhiều an-bu-mi-nô-ít không có lợi cho tuyến tụy. Do đó, cơ thể phần lớn không thể hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng trong trứng sống. Sau khi nấu chín, cấu trúc protein mới được “nới lỏng”, cơ thể chúng ta mới có thể dễ dàng hấp thụ và tiêu hóa các chất có lợi cho sức khỏe.
3. Bà bầu ăn càng nhiều trứng gà càng tốt
Trong giai đoạn bầu bí, chức năng hấp thụ và tiêu hóa các chất yếu dần, khả năng giải độc của thận và gan giảm. Do đó, nếu thừa quá nhiều chất dinh dưỡng dễ gây thêm “gánh nặng” cho gan và thận, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe.
Việc nạp quá nhiều protein sẽ làm đường ruột sản sinh quá nhiều a-mô-ni-ắc (NH3) và phenol, dễ dẫn tới hội chứng trúng độc protein với các biểu hiện như chướng bụng, đau đầu chóng mặt, toàn thân mệt mỏi, hôn mê....
Do đó, cần căn cứ vào nhu cầu mỗi cơ thể để nạp đủ lượng protein. Thường thì 2- 3 quả trứng gà/ ngày là đủ cho mỗi sản phụ.
4. Người già nên kiêng trứng gà
Nhiều người cho rằng, trứng gà có hàm lượng cholesterol khá cao, do đó không thích hợp với người già. Tuy nhiên, điều này không hẳn đúng.
Trứng gà chứa nhiều lecithin- chất kết tủa mạnh, có thể làm cho cholesterol và các lipit "co cụm", giúp lưu thông máu, hạn chế cholesterol trong máu.
Ngoài ra, lecthin trong trứng gà sau khi được cơ thể tiêu hóa sẽ sản sinh ra cholin giúp nâng cao hoạt động của hệ thần kinh, tăng cường trí nhớ.
5. Ăn trứng gà và uống sữa đậu nành
Sữa đậu nành có vị ngọt dịu, chứa nhiều protein thực vật, lipit, carbohydrate, vatamin, khoáng chất…vô cùng bổ dưỡng. Tuy nhiên, trong đậu nành lại chứa nhiều an-bu-mi-nô-ít đặc biệt, chất này khi kết hợp với lòng trắng trứng gà sẽ làm giảm giá trị dinh dưỡng của cả hai loại thực phẩm này.
6. Thời gian chế biến trứng càng lâu càng tốt
Thời gian chế biến trứng quá lâu sẽ làm "hao hụt" chất sắt có trong trứng và sản sinh phản ứng hóa học gây kết tủa có hại cho cơ thể, làm cơ thể khó hấp thụ được các chất sắt.
Ngoài ra, khi ở nhiệt độ quá cao, protein trong lòng trắng trứng gà sẽ chuyển biến thành các phân tử axit amino, chất này cũng bị phân hóa thành hợp chất hóa học có hại cho cơ thể ở nhiệt độ quá cao.
7. Tráng trứng nêm mì chính, gia vị
Bản thân trứng gà đã chứa lượng lớn axit glutamic, chlorination và natri, khi gặp nhiệt độ cao, các hợp chất này chuyển biến thành axt glutamic natri, chính là thành phần chủ yếu có trong mì chính. Do đó, nếu cho quá nhiều mì chính khi chế biến trứng sẽ làm mất hương vị tự nhiên của trứng. Tốt nhất không nên cho mì chính khi chế biến trứng.
1. Cho đường vào trứngCách làm này khiến protein trong trứng gà kết hợp với axit amoni trong đường glu-cô-zơ tạo thành hợp chất khó hấp thu, gây cảm giác khó tiêu, ợ chua, không tốt cho sức khỏe.
2. Ăn trứng gà sống là bổ nhất
Rất nhiều người cho rằng, ăn trứng gà tươi sống có tác dụng nhuận phổi, nhuận tràng, bổ sung nhanh chóng dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể, tốt cho cổ họng… Tuy nhiên, trên thực tế, cách làm này không mấy vệ sinh bởi các loại vi khuẩn, nấm mốc gây bệnh truyền nhiễm sẽ trực tiếp xâm nhập vào cơ thể dễ dàng hơn.
Trứng gà sống có chứa nhiều avidin. Lượng chất này quá dư thừa trong cơ thể làm chúng ta không có cảm giác thèm ăn, mệt mỏi, đau cơ bắp, da sưng dộp, rụng lông mày…
Kết cấu protein trong trứng gà sống vô cùng "chắc", chứa nhiều an-bu-mi-nô-ít không có lợi cho tuyến tụy. Do đó, cơ thể phần lớn không thể hấp thụ tốt các chất dinh dưỡng trong trứng sống. Sau khi nấu chín, cấu trúc protein mới được “nới lỏng”, cơ thể chúng ta mới có thể dễ dàng hấp thụ và tiêu hóa các chất có lợi cho sức khỏe.
3. Bà bầu ăn càng nhiều trứng gà càng tốt
Trong giai đoạn bầu bí, chức năng hấp thụ và tiêu hóa các chất yếu dần, khả năng giải độc của thận và gan giảm. Do đó, nếu thừa quá nhiều chất dinh dưỡng dễ gây thêm “gánh nặng” cho gan và thận, ảnh hưởng xấu tới sức khỏe.
Việc nạp quá nhiều protein sẽ làm đường ruột sản sinh quá nhiều a-mô-ni-ắc (NH3) và phenol, dễ dẫn tới hội chứng trúng độc protein với các biểu hiện như chướng bụng, đau đầu chóng mặt, toàn thân mệt mỏi, hôn mê....
Do đó, cần căn cứ vào nhu cầu mỗi cơ thể để nạp đủ lượng protein. Thường thì 2- 3 quả trứng gà/ ngày là đủ cho mỗi sản phụ.
4. Người già nên kiêng trứng gà
Nhiều người cho rằng, trứng gà có hàm lượng cholesterol khá cao, do đó không thích hợp với người già. Tuy nhiên, điều này không hẳn đúng.
Trứng gà chứa nhiều lecithin- chất kết tủa mạnh, có thể làm cho cholesterol và các lipit "co cụm", giúp lưu thông máu, hạn chế cholesterol trong máu.
Ngoài ra, lecthin trong trứng gà sau khi được cơ thể tiêu hóa sẽ sản sinh ra cholin giúp nâng cao hoạt động của hệ thần kinh, tăng cường trí nhớ.
5. Ăn trứng gà và uống sữa đậu nành
Sữa đậu nành có vị ngọt dịu, chứa nhiều protein thực vật, lipit, carbohydrate, vatamin, khoáng chất…vô cùng bổ dưỡng. Tuy nhiên, trong đậu nành lại chứa nhiều an-bu-mi-nô-ít đặc biệt, chất này khi kết hợp với lòng trắng trứng gà sẽ làm giảm giá trị dinh dưỡng của cả hai loại thực phẩm này.
6. Thời gian chế biến trứng càng lâu càng tốt
Thời gian chế biến trứng quá lâu sẽ làm "hao hụt" chất sắt có trong trứng và sản sinh phản ứng hóa học gây kết tủa có hại cho cơ thể, làm cơ thể khó hấp thụ được các chất sắt.
Ngoài ra, khi ở nhiệt độ quá cao, protein trong lòng trắng trứng gà sẽ chuyển biến thành các phân tử axit amino, chất này cũng bị phân hóa thành hợp chất hóa học có hại cho cơ thể ở nhiệt độ quá cao.
7. Tráng trứng nêm mì chính, gia vị
Bản thân trứng gà đã chứa lượng lớn axit glutamic, chlorination và natri, khi gặp nhiệt độ cao, các hợp chất này chuyển biến thành axt glutamic natri, chính là thành phần chủ yếu có trong mì chính. Do đó, nếu cho quá nhiều mì chính khi chế biến trứng sẽ làm mất hương vị tự nhiên của trứng. Tốt nhất không nên cho mì chính khi chế biến trứng.
Phạm Hằng
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
Đậu bắp - bạn đồng hành của sức khỏe
Thuộc loại thực phẩm giàu protein, nhiều dinh dưỡng, không có cholesterol, đậu bắp luôn có mặt trong thực đơn giảm béo, giúp cơ thể bài trừ độc tố, bảo vệ sức khỏe, làm đẹp da.
Các thành phần dinh dưỡng trong đậu bắp đều cao hơn các loại rau quả củ nói chung, đặc biệt là các vi chất như: canxi, kali, vitamin B6, ma giê, folate và axit alpha - linolenic. Những vitamin này sẽ giúp “nâng cấp” sức khỏe khá toàn diện.
Ngay đến cành non của đậu bắp cũng có hương thơm và mùi vị đặc trưng, luộc ăn giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan.
Ăn đậu bắp thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì và cả ung thư.
Đậu bắp rất dễ ăn, có thể luộc, xào, nướng hoặc sấy khô đều được. Uống nước đậu bắp luộc hàng ngày, trong nhiều tháng còn giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường, có làn da đẹp, đặc biệt là rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh.
Các thành phần dinh dưỡng trong đậu bắp đều cao hơn các loại rau quả củ nói chung, đặc biệt là các vi chất như: canxi, kali, vitamin B6, ma giê, folate và axit alpha - linolenic. Những vitamin này sẽ giúp “nâng cấp” sức khỏe khá toàn diện.Ngay đến cành non của đậu bắp cũng có hương thơm và mùi vị đặc trưng, luộc ăn giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan.
Ăn đậu bắp thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì và cả ung thư.
Đậu bắp rất dễ ăn, có thể luộc, xào, nướng hoặc sấy khô đều được. Uống nước đậu bắp luộc hàng ngày, trong nhiều tháng còn giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường, có làn da đẹp, đặc biệt là rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh.
Từ Linh Hương
Theo Phụ nữ Online
Theo Phụ nữ Online
Củ cải - nhân sâm đất
Người xưa có câu: “Đông ăn củ cải hạ ăn gừng”. Theo đông y, củ cải tươi sống có vị cay, tính mát, khi đã nấu chín vị ngọt, tính bình.
Củ cải được gọi là nhân sâm đất vì hàm lượng vitamin C cao gấp 6 – 10 lần lê và táo. Trong củ cải chứa nhiều chất có khả năng chống ung thư. Ăn củ cải thường xuyên giảm được mỡ trong máu, ổn định huyết áp, phòng bệnh tim, xơ vữa động mạch, sỏi mật…
Ngoài ra, củ cải còn có công dụng hoạt huyết, chữa nôn ra máu, chảy máu cam, tiểu ra máu và giải độc rất tốt.
Lời khuyên với việc ăn củ cải :
Nên ăn sống, nhai kỹ
Củ cải và cà rốt không nên ăn cùng nhau, vì khi ăn như thế sẽ làm mất chất Vitamin C chứa trong củ cải.
Người loét dạ dày và thành tá tràng, viêm dạ dày mạn tính, kiêng ăn củ cải.
Cấm ăn cùng cam quýt, kiêng hạt thủ ô…
Một số bài thuốc từ củ cải:
Ho lâu ngày, ho ra máu : Khi ho nhiều ngày mà không khỏi, lấy củ cải nấu canh với cá diếc, ăn nhiều ngày bệnh sẽ đỡ.
Hoặc: Củ cải trắng 1 kg, lê 1 kg, gừng tươi 250 g, sữa 250 g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, củ cải và gừng tươi rửa sạch, thái nhỏ, mỗi thứ vắt nước, để riêng. Cô nước củ cải, lê đến khi đặc dính rồi cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều, đun sôi lại. Khi nguội, cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần dùng một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Ngày dùng hai lần.
Hen suyễn, nhiều đờm : Hạt củ cải rửa sạch, phơi khô, tẩm nước gừng tươi, sao vàng tán thành bột mịn. Lấy 5 vỏ quýt và 1 nhánh gừng cho vào nồi đun sôi kỹ lấy 40-50 ml nước đặc, gạn trong, sau đó cho thêm một thìa bột quấy đều đun chín. Lấy nước hồ đó cho vào bột hạt củ cải, trộn đều đem viên thành viên nhỏ bằng hạt đỗ đen, uống 15-20 viên/lần, hằng ngày uống trước bữa ăn.
Khản tiếng : Lấy 2-3 củ cải và 1 nhánh gừng tươi, rửa sạch, giã nhỏ gạn lấy nước để uống, uống từ 1-2 ngày bệnh sẽ đỡ.
Đau đầu do cao huyết áp : Nước củ cải tươi uống lạnh.
Tiểu đường : Củ cải tươi 200 g (gọt vỏ, thái sợi), gạo tẻ 50 g, gạo nếp 50 g, nấu thành cháo, ăn nóng, ngày hai lần. Mỗi liệu trình 3-5 ngày liền.
Chữa tiểu ít, tiểu đục, có sỏi : Dùng một trong các cách như ép nước củ cải tươi, sắc củ cải tươi để uống, lấy củ cải khô tán bột (trước đó có tẩm mật sao nhiều lần hoặc không tẩm mật) uống hoặc làm hoàn. Khi uống cho thêm ít muối.
Chữa lưng đau gối mỏi, dễ yếu mệt ở người già : Chim cút hai con, củ cải 200 g, dầu, gừng gia vị vừa đủ. Chim cút làm sạch, chặt thành miếng vuông cạnh 2 cm. Củ cải thái miếng dài 4cm rộng 2cm. Rán thịt chim đổi màu mới cho củ cải vào xào, rồi cho gia vị, thêm ít nước vào nấu cho đến khi chín.
Củ cải được gọi là nhân sâm đất vì hàm lượng vitamin C cao gấp 6 – 10 lần lê và táo. Trong củ cải chứa nhiều chất có khả năng chống ung thư. Ăn củ cải thường xuyên giảm được mỡ trong máu, ổn định huyết áp, phòng bệnh tim, xơ vữa động mạch, sỏi mật…Ngoài ra, củ cải còn có công dụng hoạt huyết, chữa nôn ra máu, chảy máu cam, tiểu ra máu và giải độc rất tốt.
Lời khuyên với việc ăn củ cải :
Nên ăn sống, nhai kỹ
Củ cải và cà rốt không nên ăn cùng nhau, vì khi ăn như thế sẽ làm mất chất Vitamin C chứa trong củ cải.
Người loét dạ dày và thành tá tràng, viêm dạ dày mạn tính, kiêng ăn củ cải.
Cấm ăn cùng cam quýt, kiêng hạt thủ ô…
Một số bài thuốc từ củ cải:
Ho lâu ngày, ho ra máu : Khi ho nhiều ngày mà không khỏi, lấy củ cải nấu canh với cá diếc, ăn nhiều ngày bệnh sẽ đỡ.
Hoặc: Củ cải trắng 1 kg, lê 1 kg, gừng tươi 250 g, sữa 250 g. Lê gọt vỏ, bỏ hạt, củ cải và gừng tươi rửa sạch, thái nhỏ, mỗi thứ vắt nước, để riêng. Cô nước củ cải, lê đến khi đặc dính rồi cho nước gừng, sữa, mật ong vào quấy đều, đun sôi lại. Khi nguội, cho vào lọ đậy kín. Mỗi lần dùng một thìa canh pha vào nước nóng để uống. Ngày dùng hai lần.
Hen suyễn, nhiều đờm : Hạt củ cải rửa sạch, phơi khô, tẩm nước gừng tươi, sao vàng tán thành bột mịn. Lấy 5 vỏ quýt và 1 nhánh gừng cho vào nồi đun sôi kỹ lấy 40-50 ml nước đặc, gạn trong, sau đó cho thêm một thìa bột quấy đều đun chín. Lấy nước hồ đó cho vào bột hạt củ cải, trộn đều đem viên thành viên nhỏ bằng hạt đỗ đen, uống 15-20 viên/lần, hằng ngày uống trước bữa ăn.
Khản tiếng : Lấy 2-3 củ cải và 1 nhánh gừng tươi, rửa sạch, giã nhỏ gạn lấy nước để uống, uống từ 1-2 ngày bệnh sẽ đỡ.
Đau đầu do cao huyết áp : Nước củ cải tươi uống lạnh.
Tiểu đường : Củ cải tươi 200 g (gọt vỏ, thái sợi), gạo tẻ 50 g, gạo nếp 50 g, nấu thành cháo, ăn nóng, ngày hai lần. Mỗi liệu trình 3-5 ngày liền.
Chữa tiểu ít, tiểu đục, có sỏi : Dùng một trong các cách như ép nước củ cải tươi, sắc củ cải tươi để uống, lấy củ cải khô tán bột (trước đó có tẩm mật sao nhiều lần hoặc không tẩm mật) uống hoặc làm hoàn. Khi uống cho thêm ít muối.
Chữa lưng đau gối mỏi, dễ yếu mệt ở người già : Chim cút hai con, củ cải 200 g, dầu, gừng gia vị vừa đủ. Chim cút làm sạch, chặt thành miếng vuông cạnh 2 cm. Củ cải thái miếng dài 4cm rộng 2cm. Rán thịt chim đổi màu mới cho củ cải vào xào, rồi cho gia vị, thêm ít nước vào nấu cho đến khi chín.
Từ Linh Hương
Theo Phụ nữ Online
Theo Phụ nữ Online
Làm chủ cảm xúc, cách nào?
Các chuyên gia dinh dưỡng cho biết một số thực phẩm có thể giúp cải thiện cảm xúc theo hướng tích cực hoặc tiêu cực, trong một giai đoạn dài hay trong 1 thời kỳ ngắn ngủi.Thực phẩm cải thiện tâm trạng
1. Ưu tiên các thực phẩm giàu vitamin B12 và axit folic
Các món ăn như đậu hầm thịt bò, sa lát ức gà trộn xà lách, cá hồi nướng ăn với súp lơ xanh… đều là những thực phẩm giàu axit folic (folate) và vitamin B12.
2 loại vi chất này giúp ngăn ngừa các rối loạn ở hệ thận kinh trung ương, rối loạn cảm xúc và suy giảm trí nhớ.
Các nhà khoa học Nhật Bản nhận thấy có sự liên quan giữa việc ăn nhiều thực phẩm giàu folate và giảm thấp số người mắc bệnh trầm cảm trên đối tượng nghiên cứu là nam giới.
Axit folic thường có nhiều trong đậu đỗ và rau xanh. Vitamin B12 có nhiều trong thịt, cá, thịt lợn và các sản phẩm từ sữa.
2. Khẩu phần chính là hoa quả và rau xanh
Hoa quả và rau xanh rất giàu các vi chất dinh dưỡng cơ bản cũng như các chất chống ôxy hóa vì thế chúng được mệnh danh là người kiến tạo sức khỏe và chất lượng sống.
Trong một nghiên cứu, ăn từ 500g rau quả trở lên mỗi ngày sẽ hỗ trợ nâng cao sức khỏe tới 11%. Những người ăn nhiều hoa quả và rau xanh nhất sẽ luôn cảm thấy khỏe mạnh, yêu đời.
3. Ăn thực phẩm giàu chất selen mỗi ngày
Selen là một khoáng chất mà hoạt động như một chất chống ôxy hóa trong cơ thể. Vậy chất chống ôxy hóa đóng vai trò như thế nào trong việc cải thiện cảm xúc và giảm thiểu những suy nghĩ không tốt? Nghiên cứu cho thấy sự hiện diện của chất ôxy hóa trong não liên quan với chứng trầm cảm ở người lớn tuổi.
Ngoài việc có thể uống bổ sung selen, ngũ cốc nguyên cám cũng rất giàu khoáng tố này.
Nên ăn bánh mỳ làm từ lúa mạch, lúa mỳ nguyên cám, gạo cẩm, đậu đỗ, thịt nạc (thịt lợn, bò, thịt gà bỏ da hoặc gà tây), thực phẩm làm từ sữa ít béo, các loại hạt họ lạc, hạt hướng dương, hạt bí; các loại hản sản (hàu, cua, cá mòi, con trai)… để đảm bảo vi chất này.
4. Ăn cá đều đặn mỗi tuần
Một số nghiên cứu gần đây cho thấy biểu hiện buồn chán, mệt mỏi sẽ giảm thấp nếu ăn nhiều cá, đặc biệt là các loại cá béo như cá hồi (vốn rất giàu axit omega-3).
Axit béo omega-3 từ cá được xem là giúp cải thiện cảm xúc rất hiệu quả, đặc biệt là trầm cảm.
Những nguồn thực phẩm giàu axit béo omega-3 là cá trích, cá hồi, cá mòi, cá ngừ.
5. Bổ sung vitamin D
Ra nắng chút ít là bạn cảm thấy khỏe khoắn hơn? Đó là vì ánh nắng đã giúp cơ thể tổng hợp vitamin D.
4 nghiên cứu gần đây cho thấy sự liên quan giữa nồng độ vitamin D thấp với 4 chứng rối loạn cảm xúc (PMS, rối loạn cảm xúc theo mùa, rối loạn cảm xúc không rõ nguyên nhân và trầm cảm).
Để có thể kiểm soát tốt cảm xúc của mình, cơ thể cần 1.000-2.000IU vitamin D/ngày.
Một số thực phẩm giàu vitamin D như các loại cá béo, gan bò, phô mai, lòng đỏ trứng. Tuy nhiên, các bổ sung vitamin D hiệu quả nhất vẫn là ra nắng.
6. Khi mệt mỏi, căng thẳng hãy nghĩ tới sô-cô-la
“Một lượng nhỏ sô-cô-la đen sẽ giúp tâm trạng khá lên”, TS Becker, ĐH Kohns Hopkins khuyên.
Sô-cô-la đen tác động tới não, kích thích cơ thể sản xuất ra các chất endorphin - vốn là những chất giúp cải thiện xúc cảm. Không chỉ vậy, sô-cô-la nguyên chất còn giúp cho hệ tuần hoàn hoạt động tốt hơn.
Trong một nghiên cứu của ĐH Netherlands, những nam giới ăn 1/3 thanh sô-cô-la mỗi ngày sẽ giảm được huyết áp và ít mắc bệnh tim mạch hơn.
Nhân Hà
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
Cảnh báo khi dùng thức ăn nhanh
Bác sỹ nào cũng khẳng định đồ ăn nhanh hại nhiều hơn lợi. Chuyên gia dinh dưỡng cảnh báo lạm dụng fastfood là tự vơ bệnh vào người. Người lo cứ lo, người ăn vẫn cứ ăn.
Hamburger, hotdog, pizza, khoai tây chiên, gà rán, snack... fastfood có rất nhiều món ngon để hấp dẫn những công dân hiện đại, ưa sự nhanh gọn. Fastfood rất tiện, vừa không mất thời gian chế biến, lại có thể "vừa chơi vừa ăn", "vừa làm vừa ăn", ăn khi đang xem tivi, trên xe bus, ăn trong lúc chơi game...
Hơn nữa, dù được chế biến hàng loạt nhưng fastfood vẫn cung cấp năng lượng, hương vị hấp dẫn, giá cả mềm mại. Thêm nữa, để đẩy mạnh sự phát triển, các nhà kinh doanh fastfood biết cách đánh vào thị hiếu tiêu dùng của dân chúng. Họ tăng cường quảng cáo, biến fastfood trở thành một trong những biểu trưng cho lối sống hiện đại và thực dụng.
Những chương trình quảng cáo bắt mắt trên truyền hình với nụ cười rạng rỡ của những người nổi tiếng cùng vô vàn hình thức khuyến mại hấp dẫn đến không thể làm ngơ như mua 2 tặng 1, trẻ em mua một suất/gói thì được tặng món đồ chơi nhỏ, tặng phiếu giảm giá cho lần ăn tiếp theo, tặng phiếu rút thăm trúng thưởng...Một món hời rõ ràng trước mắt, mấy ai dại dột không đón nhận?
Bản thân fastfood không có gì đáng chê trách cả, điều đáng nói ở đây chính là sự hấp dẫn, tiện lợi của fastfood đã dẫn đến tình trạng lạm dụng đồ ăn nhanh và sự lạm dụng này chắc chắn không tốt cho sức khỏe của bất cứ ai.
Có cần đề phòng fastfood?
Câu trả lời là rất cần. Do nhiều chất, nên năng lượng trong fastfood không tính bằng kcal, mà bằng chất đạm, vitamin...Hơn nữa, fastfood chứa nhiều muối sodium, chất béo, cholesterol...nên không tốt cho sức khỏe những ai thường xuyên dùng, lạm dụng nó, đặc biệt là trẻ em và người có tuổi, người mẫn cảm với các thành phần trong fastfood.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lượng calo và cholesterol dồi dào trong các loại đồ ăn nhanh là thủ phạm gây nên béo phì. Ai cũng hiểu muốn đốt bớt calo và cholesterol dư thừa thì nên tập thể dục. Nghe rất đơn giản, nhưng thực tế, việc nạp quá nhiều năng lượng từ fastfood lại khiến cơ thể lẫn thói quen sinh hoạt của bạn trở nên trì trệ, ngại vận động. Hơn thế nữa, việc từ bỏ thói quen ăn uống này cũng chẳng đơn giản, vì fastfood ngon miệng, có nhiều món, lại tiện dụng, dễ khiến người ta nghiền cái ngọt, cái béo, đặc biệt là với trẻ em.
Bên cạnh đó, để kích thích cảm giác hời khi mua, nhà sản xuất ngày càng tăng khối lượng và kích cỡ nhằm tạo thêm sức hấp dẫn mãnh liệt cho các dòng sản phẩm của fastfood của mình (như hũ bắp rang bơ bán tại các rạp chiếu phim chẳng hạn, nó ngày càng lớn). Các xét nghiệm y tế cũng cho thấy, việc dùng fastfood và nước ngọt, soda...thường xuyên sẽ làm mức enzym alanin aminotransferas tăng cao trong máu, dễ gây những bệnh về gan.
Không chỉ cung cấp nhiều calo và cholesterol, nhiều loại fastfood còn có chỉ số GI - chỉ số chuyển hóa đường/carbohydrate thành glucose vào máu -cao, ví dụ như các loại bánh được làm từ bột quá trắng, khoai tây chip, hoặc fries, crackers, nước ngọt có gas...
Thực phẩm có GI càng cao sẽ làm tăng hàm lượng đường trong máu. Việc này sẽ khiến tuyến tuỵ tiết ra càng nhiều insulin để giúp mang glucose vào tế bào nhằm mục đích tạo năng lượng và rút đường huyết xuống. Tuy nhiên, ở bệnh tiểu đường type 2, loại bệnh phổ biến hiện nay, tế bào đôi khi không chịu nhận glucose do insulin mang tới, dẫn đến hiện tượng kháng insulin.
Glucose có trong máu quá nhiều sẽ lại khiến tuyên tụy tiếp tục tiếp thêm insulin. Insulin không chỉ đem glucose vào tế bào mà còn hạn chế việc loại bỏ chất béo trong cơ thể. Một thực tế rất rõ ràng là bệnh tiểu đường type 2 xưa vốn chỉ hỏi thăm người lớn thì giờ xuất hiện cả ở trẻ em, mà 80% số trẻ em đó thuộc diện quá cân.
Bên cạnh đó, trong những loại thực phẩm công nghiệp như thịt nguội, đồ hộp, hotdog, thịt xông khói, lạp xưởng, sauage, salami, bột ngọt... những thứ thường được dùng để làm fastfood đều có chứa muối sodium. Nhu cầu muối sodium mỗi ngày của cơ thể từ 1000-3000mg, ăn dư ra sẽ có hại cho tim, cho thận, hoặc có thể tăng áp suất động mạch dễ gây tai biến mạch máu não!
Không chỉ vậy, chất béo bão hòa - Saurated fat (loại chất béo xấu) chứa thường xuyên trong fastfood còn gia tăng cholesterol trong máu, dễ gây ra chứng xơ cứng động mạch, tăng áp huyết, gây tắc nghẽn mạch vành tim, dẫn đến những bệnh về tim như đau thắt ngực, tai biến mạch máu não. Chất béo bão hòa thường có trong mỡ thịt động vật, bơ sữa, dầu dừa, nước cốt dừa, dầu cọ... Cũng như chất béo bão hòa, loại chất béo Triglyceride chứa trong một số loại fastfood (bánh kẹo, nước ngọt, rượu, đường...) cao cũng sẽ là một trong những yếu tố tích cực gây ra những bệnh tim mạch.
Trans - Một loại chất béo không bão hòa, được sinh ra từ trong qúa trình chế biến và được dùng làm đẹp mã nhiều loại fastfood như bánh ngọt, peanut butter, donuts, chips, cookies, cracker, bánh mì croissant, margarine... cũng không có lợi cho sức khỏe. Bạn cần cẩn thận bởi ngày nay vẫn còn nhiều các hãng fastfood "quên" ghi hàm lượng chất béo Trans trên bao bì sản phẩm. Vậy nên, nếu bạn thấy danh mục thành phần của một sản phẩm có ghi: Hyđrogenate, Partially hydrogenated vegetable oil, Shorten-ing... chắc chắn nó có chứa chất béo Trans.
Ăn hay không ăn?
Bạn không cần phải tuyệt giao với fastfood, nhưng cũng không nên ăn quá nhiều, và đương nhiên không bao giờ nên chọn chúng làm thực đơn chính hàng ngày. Nếu thi thoảng muốn thay đổi thực đơn bằng fastfood thì bạn nên chọn những nhà cung cấp có ghi rõ thành phần dinh dưỡng trên bao bì. Tuy nhiên, đừng bao giờ quên: thực phẩm tươi và khẩu phần ăn nhiều rau củ bao giờ cũng là tốt nhất.
Hamburger, hotdog, pizza, khoai tây chiên, gà rán, snack... fastfood có rất nhiều món ngon để hấp dẫn những công dân hiện đại, ưa sự nhanh gọn. Fastfood rất tiện, vừa không mất thời gian chế biến, lại có thể "vừa chơi vừa ăn", "vừa làm vừa ăn", ăn khi đang xem tivi, trên xe bus, ăn trong lúc chơi game...
Hơn nữa, dù được chế biến hàng loạt nhưng fastfood vẫn cung cấp năng lượng, hương vị hấp dẫn, giá cả mềm mại. Thêm nữa, để đẩy mạnh sự phát triển, các nhà kinh doanh fastfood biết cách đánh vào thị hiếu tiêu dùng của dân chúng. Họ tăng cường quảng cáo, biến fastfood trở thành một trong những biểu trưng cho lối sống hiện đại và thực dụng.
Những chương trình quảng cáo bắt mắt trên truyền hình với nụ cười rạng rỡ của những người nổi tiếng cùng vô vàn hình thức khuyến mại hấp dẫn đến không thể làm ngơ như mua 2 tặng 1, trẻ em mua một suất/gói thì được tặng món đồ chơi nhỏ, tặng phiếu giảm giá cho lần ăn tiếp theo, tặng phiếu rút thăm trúng thưởng...Một món hời rõ ràng trước mắt, mấy ai dại dột không đón nhận?
Bản thân fastfood không có gì đáng chê trách cả, điều đáng nói ở đây chính là sự hấp dẫn, tiện lợi của fastfood đã dẫn đến tình trạng lạm dụng đồ ăn nhanh và sự lạm dụng này chắc chắn không tốt cho sức khỏe của bất cứ ai.
Có cần đề phòng fastfood?
Câu trả lời là rất cần. Do nhiều chất, nên năng lượng trong fastfood không tính bằng kcal, mà bằng chất đạm, vitamin...Hơn nữa, fastfood chứa nhiều muối sodium, chất béo, cholesterol...nên không tốt cho sức khỏe những ai thường xuyên dùng, lạm dụng nó, đặc biệt là trẻ em và người có tuổi, người mẫn cảm với các thành phần trong fastfood.
Nhiều nghiên cứu đã chứng minh lượng calo và cholesterol dồi dào trong các loại đồ ăn nhanh là thủ phạm gây nên béo phì. Ai cũng hiểu muốn đốt bớt calo và cholesterol dư thừa thì nên tập thể dục. Nghe rất đơn giản, nhưng thực tế, việc nạp quá nhiều năng lượng từ fastfood lại khiến cơ thể lẫn thói quen sinh hoạt của bạn trở nên trì trệ, ngại vận động. Hơn thế nữa, việc từ bỏ thói quen ăn uống này cũng chẳng đơn giản, vì fastfood ngon miệng, có nhiều món, lại tiện dụng, dễ khiến người ta nghiền cái ngọt, cái béo, đặc biệt là với trẻ em.
Bên cạnh đó, để kích thích cảm giác hời khi mua, nhà sản xuất ngày càng tăng khối lượng và kích cỡ nhằm tạo thêm sức hấp dẫn mãnh liệt cho các dòng sản phẩm của fastfood của mình (như hũ bắp rang bơ bán tại các rạp chiếu phim chẳng hạn, nó ngày càng lớn). Các xét nghiệm y tế cũng cho thấy, việc dùng fastfood và nước ngọt, soda...thường xuyên sẽ làm mức enzym alanin aminotransferas tăng cao trong máu, dễ gây những bệnh về gan.
Không chỉ cung cấp nhiều calo và cholesterol, nhiều loại fastfood còn có chỉ số GI - chỉ số chuyển hóa đường/carbohydrate thành glucose vào máu -cao, ví dụ như các loại bánh được làm từ bột quá trắng, khoai tây chip, hoặc fries, crackers, nước ngọt có gas...
Thực phẩm có GI càng cao sẽ làm tăng hàm lượng đường trong máu. Việc này sẽ khiến tuyến tuỵ tiết ra càng nhiều insulin để giúp mang glucose vào tế bào nhằm mục đích tạo năng lượng và rút đường huyết xuống. Tuy nhiên, ở bệnh tiểu đường type 2, loại bệnh phổ biến hiện nay, tế bào đôi khi không chịu nhận glucose do insulin mang tới, dẫn đến hiện tượng kháng insulin.
Glucose có trong máu quá nhiều sẽ lại khiến tuyên tụy tiếp tục tiếp thêm insulin. Insulin không chỉ đem glucose vào tế bào mà còn hạn chế việc loại bỏ chất béo trong cơ thể. Một thực tế rất rõ ràng là bệnh tiểu đường type 2 xưa vốn chỉ hỏi thăm người lớn thì giờ xuất hiện cả ở trẻ em, mà 80% số trẻ em đó thuộc diện quá cân.
Bên cạnh đó, trong những loại thực phẩm công nghiệp như thịt nguội, đồ hộp, hotdog, thịt xông khói, lạp xưởng, sauage, salami, bột ngọt... những thứ thường được dùng để làm fastfood đều có chứa muối sodium. Nhu cầu muối sodium mỗi ngày của cơ thể từ 1000-3000mg, ăn dư ra sẽ có hại cho tim, cho thận, hoặc có thể tăng áp suất động mạch dễ gây tai biến mạch máu não!
Không chỉ vậy, chất béo bão hòa - Saurated fat (loại chất béo xấu) chứa thường xuyên trong fastfood còn gia tăng cholesterol trong máu, dễ gây ra chứng xơ cứng động mạch, tăng áp huyết, gây tắc nghẽn mạch vành tim, dẫn đến những bệnh về tim như đau thắt ngực, tai biến mạch máu não. Chất béo bão hòa thường có trong mỡ thịt động vật, bơ sữa, dầu dừa, nước cốt dừa, dầu cọ... Cũng như chất béo bão hòa, loại chất béo Triglyceride chứa trong một số loại fastfood (bánh kẹo, nước ngọt, rượu, đường...) cao cũng sẽ là một trong những yếu tố tích cực gây ra những bệnh tim mạch.
Trans - Một loại chất béo không bão hòa, được sinh ra từ trong qúa trình chế biến và được dùng làm đẹp mã nhiều loại fastfood như bánh ngọt, peanut butter, donuts, chips, cookies, cracker, bánh mì croissant, margarine... cũng không có lợi cho sức khỏe. Bạn cần cẩn thận bởi ngày nay vẫn còn nhiều các hãng fastfood "quên" ghi hàm lượng chất béo Trans trên bao bì sản phẩm. Vậy nên, nếu bạn thấy danh mục thành phần của một sản phẩm có ghi: Hyđrogenate, Partially hydrogenated vegetable oil, Shorten-ing... chắc chắn nó có chứa chất béo Trans.
Ăn hay không ăn?
Bạn không cần phải tuyệt giao với fastfood, nhưng cũng không nên ăn quá nhiều, và đương nhiên không bao giờ nên chọn chúng làm thực đơn chính hàng ngày. Nếu thi thoảng muốn thay đổi thực đơn bằng fastfood thì bạn nên chọn những nhà cung cấp có ghi rõ thành phần dinh dưỡng trên bao bì. Tuy nhiên, đừng bao giờ quên: thực phẩm tươi và khẩu phần ăn nhiều rau củ bao giờ cũng là tốt nhất.
Theo Gia đình Trẻ
8 Cách ăn để đốt cháy calo
Bạn đừng nghĩ rằng chỉ vận động nhiều mới có thể đốt cháy lượng calo thừa trong cơ thể. 10 cách dưới đây sẽ giúp bạn vừa “măm” thoải mái nhưng lại luôn giữ được “eo thon, dáng gọn”.
1. Bữa sáng với trứng gà
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng, thể trọng của những người thường xuyên ăn trứng gà vào bữa sáng thường thấp hơn so với những người khác. Hàm lượng protein dồi dào có trong trứng gà là nguồn nhiên liệu tiếp sức cho các hoạt động của cơ thể trong cả ngày hoạt động mà không cần bổ sung thêm nhiều các loại thực phẩm giàu năng lượng khác.
Đồng thời lượng protein này được cơ thể hấp thu dễ dàng, không tích trữ và chuyển thành chất béo nên bạn hoàn toàn có thể sử dụng loại thực phẩm bổ dưỡng này trong bữa sáng của mình. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý chỉ nên ăn trứng gà theo phương pháp luộc hoặc hấp. Tránh chế biến trứng với nhiều dầu mỡ vì sẽ gây tác dụng ngược.
2. “Ưu tiên” sữa và các chế phẩm từ sữa
Loại thực phẩm này chứa một hàm lượng lớn canxi nhưng lại rất ít chất béo. Vitamin D có trong sữa giúp cơ thể tăng cường hấp thu sắt và kích thích và đẩy mạnh hoạt động của hệ tiêu hoá, tứ đó giúp đốt cháy lượng calo thừa trong cơ thể.
3. Ăn chậm, nhai kỹ
Ăn chậm, nhai kỹ là cách để hạn chế và kiểm soát được lượng thức ăn đưa vào cơ thể. Não bộ cần khoảng 20 phút mới có thể cảm nhận được tín hiệu từ chiếc dạ dày vì vậy nếu ăn vội vàng, bạn ăn nhiều hơn mức cần thiết. Ngoài ra, không chỉ giúp bạn thưởng thức được vị ngon của các món ăn, ăn chậm, nhai kỹ còn là “bài thể dục nhẹ nhàng nhất” của của hàm răng giúp đốt cháy calo thừa trong cơ thể.
4. “Yêu” các món luộc, hấp
Thức ăn nấu theo phương pháp chiên xào thường chứa nhiều dầu mỡ. Ở nhiệt độ cao, dầu mỡ dễ chuyển thành chất béo khó tiêu hóa, lâu ngày sẽ làm tăng thêm lượng calo dư thừa trong cơ thể.
Các món ăn chế biến theo phương pháp luộc và hấp thường giữ được hầu hết các loại vitamin, khoáng chất cũng như không làm mất đi sự tươi ngon của các loại thực phẩm.
5. Thêm chút gia vị cay vào món ăn
Một chút vị cay sẽ giúp ngon miệng hơn. Đồng thời, vị cay cũng có tác dụng hoạt huyết, kích thích nhu động dạ dày, ruột, tăng tiết dịch tiêu hoá, thúc đẩy tuần hoàn máu và sự chuyển hoá trong cơ thể, từ đó thức ăn được tiêu hóa nhanh hơn.
6. Giảm bớt đồ ngọt
Đây là “thủ phạm” chính làm ra tăng lượng calo trong cơ thể. Khi bạn ăn đồ ngọt quá nhiều, lượng đường không kịp tiêu hóa hết lập tức sẽ chuyển hóa thành chất béo,làm dầy thêm các mô mỡ trên da bạn.
7. Đừng quên rau xanh và hoa quả
Rau xanh, hoa quả và các loại nước ép hoa quả giàu chất xơ và hàm lượng đường tự nhiên, rất có lợi cho tiêu hoá và không dễ tạo thành chất béo trong cơ thể. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc ăn hoa quả trước ăn cũng là phương pháp giảm cân hiệu quả vì chiếc dạ dày của bạn đang “bằng lòng” với phần hoa quả đó thì nó sẽ không còn “cảm hứng” để tiếp nhận những thức ăn khác, nhất là các loại thức ăn giầu chất béo.
Ngoài ra, các axit amin tự nhiên có trong thành phần các loại rau xanh và hoa quả sẽ giúp trung hoà lượng chất béo trong thức ăn hàng ngày, ngăn chặn quá trình tích tụ mỡ dưới da.
8. Uống trà xanh thường xuyên
Một cốc trà xanh nóng sau bữa ăn không chỉ giúp dạ dày tiêu hóa thức ăn nhanh hơn mà còn có thể đốt cháy 100kilo calo trong cơ thể.
1. Bữa sáng với trứng gà
Các nghiên cứu đã chứng minh rằng, thể trọng của những người thường xuyên ăn trứng gà vào bữa sáng thường thấp hơn so với những người khác. Hàm lượng protein dồi dào có trong trứng gà là nguồn nhiên liệu tiếp sức cho các hoạt động của cơ thể trong cả ngày hoạt động mà không cần bổ sung thêm nhiều các loại thực phẩm giàu năng lượng khác.
Đồng thời lượng protein này được cơ thể hấp thu dễ dàng, không tích trữ và chuyển thành chất béo nên bạn hoàn toàn có thể sử dụng loại thực phẩm bổ dưỡng này trong bữa sáng của mình. Tuy nhiên, bạn cũng cần lưu ý chỉ nên ăn trứng gà theo phương pháp luộc hoặc hấp. Tránh chế biến trứng với nhiều dầu mỡ vì sẽ gây tác dụng ngược.
2. “Ưu tiên” sữa và các chế phẩm từ sữa
Loại thực phẩm này chứa một hàm lượng lớn canxi nhưng lại rất ít chất béo. Vitamin D có trong sữa giúp cơ thể tăng cường hấp thu sắt và kích thích và đẩy mạnh hoạt động của hệ tiêu hoá, tứ đó giúp đốt cháy lượng calo thừa trong cơ thể.
3. Ăn chậm, nhai kỹ
Ăn chậm, nhai kỹ là cách để hạn chế và kiểm soát được lượng thức ăn đưa vào cơ thể. Não bộ cần khoảng 20 phút mới có thể cảm nhận được tín hiệu từ chiếc dạ dày vì vậy nếu ăn vội vàng, bạn ăn nhiều hơn mức cần thiết. Ngoài ra, không chỉ giúp bạn thưởng thức được vị ngon của các món ăn, ăn chậm, nhai kỹ còn là “bài thể dục nhẹ nhàng nhất” của của hàm răng giúp đốt cháy calo thừa trong cơ thể.
4. “Yêu” các món luộc, hấp
Thức ăn nấu theo phương pháp chiên xào thường chứa nhiều dầu mỡ. Ở nhiệt độ cao, dầu mỡ dễ chuyển thành chất béo khó tiêu hóa, lâu ngày sẽ làm tăng thêm lượng calo dư thừa trong cơ thể.
Các món ăn chế biến theo phương pháp luộc và hấp thường giữ được hầu hết các loại vitamin, khoáng chất cũng như không làm mất đi sự tươi ngon của các loại thực phẩm.
5. Thêm chút gia vị cay vào món ăn
Một chút vị cay sẽ giúp ngon miệng hơn. Đồng thời, vị cay cũng có tác dụng hoạt huyết, kích thích nhu động dạ dày, ruột, tăng tiết dịch tiêu hoá, thúc đẩy tuần hoàn máu và sự chuyển hoá trong cơ thể, từ đó thức ăn được tiêu hóa nhanh hơn.
6. Giảm bớt đồ ngọt
Đây là “thủ phạm” chính làm ra tăng lượng calo trong cơ thể. Khi bạn ăn đồ ngọt quá nhiều, lượng đường không kịp tiêu hóa hết lập tức sẽ chuyển hóa thành chất béo,làm dầy thêm các mô mỡ trên da bạn.
7. Đừng quên rau xanh và hoa quả
Rau xanh, hoa quả và các loại nước ép hoa quả giàu chất xơ và hàm lượng đường tự nhiên, rất có lợi cho tiêu hoá và không dễ tạo thành chất béo trong cơ thể. Các nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, việc ăn hoa quả trước ăn cũng là phương pháp giảm cân hiệu quả vì chiếc dạ dày của bạn đang “bằng lòng” với phần hoa quả đó thì nó sẽ không còn “cảm hứng” để tiếp nhận những thức ăn khác, nhất là các loại thức ăn giầu chất béo.
Ngoài ra, các axit amin tự nhiên có trong thành phần các loại rau xanh và hoa quả sẽ giúp trung hoà lượng chất béo trong thức ăn hàng ngày, ngăn chặn quá trình tích tụ mỡ dưới da.
8. Uống trà xanh thường xuyên
Một cốc trà xanh nóng sau bữa ăn không chỉ giúp dạ dày tiêu hóa thức ăn nhanh hơn mà còn có thể đốt cháy 100kilo calo trong cơ thể.
Thu Lan
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
Thực phẩm nên ăn khi chạy bộ
Bạn thường chạy bộ để nâng cao sức khỏe. Hãy ăn hàng tuần hoặc mang theo trong người những thực phẩm sau mỗi khi chạy bộ nhé. Hiệu quả sẽ không ngờ đấy.
Hạnh nhân
Rất giàu chất chống ôxy hóa vitamin E, loại hạt này giúp ngăn ngừa tình trạng đau nhức cơ. Protein và chất xơ sẽ giúp cho dạ dày bớt “sốc” do bị lộn tùng phèo trong quá trình chạy.
Bạn có thể để trong túi áo/quần để nhấm nháp khi chạy bộ mỗi sáng.
Cam
Chạy tác động tới các múi cơ và cam là nguồn vitamin C tuyệt vời, dưỡng chất giúp giảm đau cơ hiệu quả.
Vitamin C cũng có thể giúp tăng khả năng hấp thụ chất sắt, một khoáng chất quan trọng giúp ngăn ngừa mệt mỏi và suy giảm năng lượng.
Ăn cam nguyên quả hoặc uống 200g nước cam vắt mỗi ngày.
Khoai lang
Loại củ có vị ngon ngọt này cung cấp chất đường bột với giá trị năng lượng cao, chất beta-caroten, các khoáng chất như kẽm, magie, giúp người chạy bớt mất nước qua đường mồ hôi.
Một củ khoai lang cỡ vừa sẽ cung cấp khoảng 100 calo, nên ăn 2/3 lần/tuần, mỗi lần 1 củ.
Cá ngừ
Để giúp hồi phục các cơ bắp sau khi hoạt động hết mức, bạn cần bổ sung 60-90g protein mỗi ngày.
Cá ngừa là một nguồn bổ sung protein hiệu quả. Chỉ khoảng 100g là đủ cung cấp một nửa nhu cầu protein hằng ngày (tương đương với 2 cốc đỗ đen) và lại còn rất tốt cho sức khỏe của tim.
Ăn 100g cá ngừ/lần, 2 lần/tuần.
Hạnh nhânRất giàu chất chống ôxy hóa vitamin E, loại hạt này giúp ngăn ngừa tình trạng đau nhức cơ. Protein và chất xơ sẽ giúp cho dạ dày bớt “sốc” do bị lộn tùng phèo trong quá trình chạy.
Bạn có thể để trong túi áo/quần để nhấm nháp khi chạy bộ mỗi sáng.
Cam
Chạy tác động tới các múi cơ và cam là nguồn vitamin C tuyệt vời, dưỡng chất giúp giảm đau cơ hiệu quả.
Vitamin C cũng có thể giúp tăng khả năng hấp thụ chất sắt, một khoáng chất quan trọng giúp ngăn ngừa mệt mỏi và suy giảm năng lượng.
Ăn cam nguyên quả hoặc uống 200g nước cam vắt mỗi ngày.
Khoai lang
Loại củ có vị ngon ngọt này cung cấp chất đường bột với giá trị năng lượng cao, chất beta-caroten, các khoáng chất như kẽm, magie, giúp người chạy bớt mất nước qua đường mồ hôi.
Một củ khoai lang cỡ vừa sẽ cung cấp khoảng 100 calo, nên ăn 2/3 lần/tuần, mỗi lần 1 củ.
Cá ngừ
Để giúp hồi phục các cơ bắp sau khi hoạt động hết mức, bạn cần bổ sung 60-90g protein mỗi ngày.
Cá ngừa là một nguồn bổ sung protein hiệu quả. Chỉ khoảng 100g là đủ cung cấp một nửa nhu cầu protein hằng ngày (tương đương với 2 cốc đỗ đen) và lại còn rất tốt cho sức khỏe của tim.
Ăn 100g cá ngừ/lần, 2 lần/tuần.
Minh Thu
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
10 Loại thức ăn nên hạn chế
Bạn thấy mì ăn liền thật tiện lợi, trứng muối, hạt hướng dương thật ngon miệng nhưng bạn có biết những ảnh hưởng xấu của chúng đối với cơ thể.
Dưới đây là 10 loại thức ăn mà các nhà nghiên cứu cho rằng chúng không có lợi cho sức khoẻ :
Mì ăn liền
Trong loại thức ăn mang tính tiện lợi này có chứa màu thực phẩm và chất bảo quản, các chất này rất không có lợi cho sức khoẻ. Mỳ ăn liền lại nghèo nàn về chất dinh dưỡng, nếu ăn nhiều trong thời gian dài sẽ mắc chứng bệnh thếu dinh dưỡng.
Trứng muối
Để làm trứng muối người ta phải dùng một lượng chì nhất định. Nếu thường xuyên ăn trứng muối cơ thể chúng ta sẽ tích chì dẫn đến hiện tượng trúng độc. Ngoài ra, chì còn phá huỷ canxi gây ra hiện tuợng thiếu canxi trong cơ thể.
Đậu phụ chao
Trong quá trình ủ lên men, đậu phụ chao dễ bị những vi sinh vật xâm nhập, ăn vào sẽ có hại cho sức khoẻ.
Mì chính
Chắc chắc mỗi ngày không nên dùng quá 6 gam mỳ, nếu quá lạm dụng mỳ chính sẽ làm lượng sunphua hyđrô trong máu tăng cao, hạn chế việc lợi dụng canxi và magiê cần thiết gây ra triệu trứng đau đầu, tim đạp nhanh, nôn oẹ trong suốt thời gian ngắn, ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh thưc vật của con người.
Hạt hướng dương
Trong hạt hướng dương có chứa axit chưa no và axit béo, ăn nhiều hạt hướng dương sẽ làm tiêu hao chất kiềm trong cơ thể, và làm cho việc thay thế mỡ trong cơ thể gặp khó khăn. Phần lớn lượng mỡ sẽ đọng lại trong gan và làm ảnh hưởng đến chức năng của tế bào gan.
Rau chân vịt
Loại rau này có nhiều dinh dưỡng nhưng cũng chứa axit ôxalic, các nguyên tố vi lượng như kẽm, caxi chứa trong thức ăn sẽ kết hợp với axit ôxalic đi ra ngoài cơ thể khiến cơ thể thiếu canxi và kẽm.
Gan lợn
Bạn có biết, một lạng gan lợn có chứa tới 400 mg clolestrol, nếu nồng độ này quá nhiều sẽ gây nguyên nhân làm xơ cứng động mạch.
Thịt bò, thịt dê nướng
Đây là món ăn khoái khẩu của nhiều người. Nhưng trong quá trình nướng các loại thịt này sẽ sản sinh ra chất độc hại, đây chính là những chất dẫn đến bệnh ung thư.
Dưa muối
Ăn dưa muối trong thời gia dài, sẽ làm natri và nước đọng trong cơ thể tăng gánh nặng cho tim, dễ dẫn đến các chứng bệnh về tim. Ngoài ra, nếu dưa muối bị khú sẽ chứa nitrat amôni chất này cũng là tác nhân gây ung thư.
Bánh quẩy
Trong bánh quẩy có chứa nhôm, nếu ăn nhiều thì nhôm vào cơ thể sẽ khó thải ra ngoài qua thận. Chất nhôm đọng lại trong cơ thể rất có hại cho não và tế bào thần kinh thậm chí gây ra bệnh lú lẫn.
Dưới đây là 10 loại thức ăn mà các nhà nghiên cứu cho rằng chúng không có lợi cho sức khoẻ :
Mì ăn liền
Trong loại thức ăn mang tính tiện lợi này có chứa màu thực phẩm và chất bảo quản, các chất này rất không có lợi cho sức khoẻ. Mỳ ăn liền lại nghèo nàn về chất dinh dưỡng, nếu ăn nhiều trong thời gian dài sẽ mắc chứng bệnh thếu dinh dưỡng.
Trứng muối
Để làm trứng muối người ta phải dùng một lượng chì nhất định. Nếu thường xuyên ăn trứng muối cơ thể chúng ta sẽ tích chì dẫn đến hiện tượng trúng độc. Ngoài ra, chì còn phá huỷ canxi gây ra hiện tuợng thiếu canxi trong cơ thể.
Đậu phụ chao
Trong quá trình ủ lên men, đậu phụ chao dễ bị những vi sinh vật xâm nhập, ăn vào sẽ có hại cho sức khoẻ.
Mì chính
Chắc chắc mỗi ngày không nên dùng quá 6 gam mỳ, nếu quá lạm dụng mỳ chính sẽ làm lượng sunphua hyđrô trong máu tăng cao, hạn chế việc lợi dụng canxi và magiê cần thiết gây ra triệu trứng đau đầu, tim đạp nhanh, nôn oẹ trong suốt thời gian ngắn, ảnh hưởng xấu đến hệ thần kinh thưc vật của con người.
Hạt hướng dương
Trong hạt hướng dương có chứa axit chưa no và axit béo, ăn nhiều hạt hướng dương sẽ làm tiêu hao chất kiềm trong cơ thể, và làm cho việc thay thế mỡ trong cơ thể gặp khó khăn. Phần lớn lượng mỡ sẽ đọng lại trong gan và làm ảnh hưởng đến chức năng của tế bào gan.
Rau chân vịt
Loại rau này có nhiều dinh dưỡng nhưng cũng chứa axit ôxalic, các nguyên tố vi lượng như kẽm, caxi chứa trong thức ăn sẽ kết hợp với axit ôxalic đi ra ngoài cơ thể khiến cơ thể thiếu canxi và kẽm.
Gan lợn
Bạn có biết, một lạng gan lợn có chứa tới 400 mg clolestrol, nếu nồng độ này quá nhiều sẽ gây nguyên nhân làm xơ cứng động mạch.
Thịt bò, thịt dê nướng
Đây là món ăn khoái khẩu của nhiều người. Nhưng trong quá trình nướng các loại thịt này sẽ sản sinh ra chất độc hại, đây chính là những chất dẫn đến bệnh ung thư.
Dưa muối
Ăn dưa muối trong thời gia dài, sẽ làm natri và nước đọng trong cơ thể tăng gánh nặng cho tim, dễ dẫn đến các chứng bệnh về tim. Ngoài ra, nếu dưa muối bị khú sẽ chứa nitrat amôni chất này cũng là tác nhân gây ung thư.
Bánh quẩy
Trong bánh quẩy có chứa nhôm, nếu ăn nhiều thì nhôm vào cơ thể sẽ khó thải ra ngoài qua thận. Chất nhôm đọng lại trong cơ thể rất có hại cho não và tế bào thần kinh thậm chí gây ra bệnh lú lẫn.
Phạm Thanh
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
Dinh dưỡng giúp giảm béo phì
Người bị béo phì nên ăn nhiều loại đậu, trái cây và các loại rau có nhiều chất xơ, không có hoặc có rất ít chất béo.
Khi ăn, nên nhai thức ăn cho thật nhuyễn, nuốt chậm. Nên ăn thong thả và chú ý đến động tác nhai trong lúc ăn. Một số thực phẩm có ích cho việc giảm béo gồm :
- Nước chè tươi hoặc nước trà xanh, uống hàng ngày sau bữa ăn.
- Nước nấu trái sơn tra (Malus doumeri Chev) 15-30g, lá sen (hà diệp) 12-16g. Uống thay nước trà trong ngày.
- Nước cúc hoa 16-20g, thảo quyết minh 10-16g. Uống thay nước trà trong ngày.
- Cháo ý dĩ 20-30g, đậu đỏ 20-30g. Nấu ăn mỗi tuần 3-4 lần.
- Nước hà thủ ô 12-16g, trạch tả 12-16g. Nấu với 1 lít nước còn lại 300ml, chia hai lần uống trước bữa ăn.
Khi ăn, nên nhai thức ăn cho thật nhuyễn, nuốt chậm. Nên ăn thong thả và chú ý đến động tác nhai trong lúc ăn. Một số thực phẩm có ích cho việc giảm béo gồm :
- Nước chè tươi hoặc nước trà xanh, uống hàng ngày sau bữa ăn.
- Nước nấu trái sơn tra (Malus doumeri Chev) 15-30g, lá sen (hà diệp) 12-16g. Uống thay nước trà trong ngày.
- Nước cúc hoa 16-20g, thảo quyết minh 10-16g. Uống thay nước trà trong ngày.
- Cháo ý dĩ 20-30g, đậu đỏ 20-30g. Nấu ăn mỗi tuần 3-4 lần.
- Nước hà thủ ô 12-16g, trạch tả 12-16g. Nấu với 1 lít nước còn lại 300ml, chia hai lần uống trước bữa ăn.
(sưu tầm)
Món ăn chữa tàn nhang
Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây nên tàn nhang thường do tình chí bất toại, can khí uất kết, thận khí bất sung hoặc xung nhâm thất điều gây nên.Những người dễ mắc
Tàn nhang là bệnh da liễu ở vùng mặt, hay gặp ở phụ nữ thời kỳ mang thai hoặc tiền mãn kinh và nam giới giai đoạn trung lão niên. Ngoài ra, bệnh còn gặp ở những người bị bệnh gan mật và một số bệnh mạn tính khác. Theo y học cổ truyền, nguyên nhân gây nên tàn nhang thường do tình chí bất toại, can khí uất kết, thận khí bất sung hoặc xung nhâm thất điều gây nên. Còn theo Tây y, có thể hiểu đó là do những rối loạn về nội tiết và các yếu tố gây căng thẳng thần kinh tạo nên.
Trị liệu
Phương pháp trị liệu bằng ăn uống của Đông y cho rằng, những người bị tàn nhang cần trọng dụng những thực phẩm có công dụng thanh nhiệt lợi thấp và kiêng kỵ những đồ ăn thức uống có tính cay nóng dễ gây táo nhiệt. Dưới đây là một số món ăn - bài thuốc (dược thiện) có công dụng phòng chống tàn nhang như :
- Bài 1 : Đan bì 10g, chi tử 10g, gạo tẻ 30g. Cách chế biến: đan bì và chi tử rửa sạch, sắc kỹ lấy nước bỏ bã rồi cho gạo vào nấu thành cháo, chia ăn vài lần trong ngày, dùng liên tục trong 10 ngày cho một liệu trình. Công dụng: sơ can thanh nhiệt, hoạt huyết lợi thấp, làm cho vết tàn nhang tiêu thoái hoặc nhạt đi.
- Bài 2 : Bạch linh 15g, hoài sơn 15g, đậu xanh 20g, gạo tẻ 60g. Cách chế biến: bạch linh và hoài sơn sấy khô, tán thành bột mịn; đậu xanh và gạo tẻ đem ninh thành cháo rồi cho bột bạch linh và hoài sơn vào, đun sôi một lát là được, chế thêm một chút đường trắng, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: sơ can thanh nhiệt, dưỡng tâm an thần, thường dùng cho những người bị tàn nhang do suy nhược thần kinh, ăn kém, mất ngủ thường xuyên.
- Bài 3 : Sinh địa 15g, huyền sâm 10g, chi tử 10g, liên nhục 30g. Cách chế biến: sinh địa và huyền sâm rửa sạch sắc kỹ, lấy nước bỏ bã rồi cho chi tử và liên nhục vào ninh nhừ, chế thêm một chút đường phèn, chia ăn vài lần trong ngày. Công dụng: tư âm thanh nhiệt, ích can bổ thận, thường dùng cho những người bị tàn nhang thuộc thể âm hư biểu hiện bằng các chứng trạng như người gầy, hay hoa mắt chóng mặt, miệng khô họng khát, có cảm giác bốc hỏa hoặc sốt nóng về chiều...
- Bài 4 : Dưa chuột tươi 100g, hoài sơn tươi (củ mài) 100g. Cách chế biến: dưa chuột rửa sạch gọt vỏ, bỏ ruột thái miếng; hoài sơn rửa sạch gọt vỏ, thái miếng. Cho hai thứ vào nồi hầm nhừ, thêm một chút đường, dùng làm điểm tâm hằng ngày. Công dụng: thanh nhiệt dưỡng âm, kiện tỳ bổ thận, trừ ban.
- Bài 5 : Đậu đen 60g, ích mẫu thảo 30g. Cách chế biến: hai thứ cho vào nồi, đổ 3 chén nước, sắc còn 1 chén, bỏ bã, thêm một chút đường đỏ và 1 - 2 thìa rượu gạo, chia uống vài lần trong ngày. Công dụng: dưỡng âm, hoạt huyết, bổ huyết, điều kinh, trừ ban.
Cần chú ý ăn nhiều hoa quả tươi như lê tươi, táo, quýt, nho, cam, chuối chín, và các loại rau xanh. Kiêng ăn các thức ăn có tính kích thích như hành tỏi, gừng, quế, hồi, hạt tiêu, ớt, và các thức ăn chiên xào, quay nướng như gà quay, vịt quay, thịt hun khói, thịt nướng... Đặc biệt cần kiêng rượu và thuốc lá.
Hoàng Khánh Toàn
Theo Thanh Niên Online
Theo Thanh Niên Online
Không làm mất dinh dưỡng khi nấu ăn
Trong thực tế, đa số chúng ta không ăn các thực phẩm sống. Trước khi dọn lên bàn ăn, chúng ta đều làm các thao tác như : rửa, cắt, nấu hoặc rán. Trong các quá trình như vậy, thành phần hoá học của thịt, rau, hạt đều bị thay đổi, mà đôi khi làm cho lợi ích của thực phẩm giảm tới con số 0.
Để không làm mất vitamin, protein, mỡ, một số hoạt chất sinh học và các chất khoáng, bạn cần tuân thủ một số nguyên tắc sau :
Cá : Cần phải nấu cá không dưới 8-10 phút (đã cắt thành miếng nhỏ), hay nguyên con (từ 500g trở lên) không dưới nửa giờ. Cũng như đối với thịt, nên cho cá vào nước sôi, sau đó hạ lửa nhỏ xuống ngay. Khi rán, nhất định phải tẩm bột để cá không bị chảy mất nước. Và cần theo dõi không để rán quá, vì khi đó protein trở nên cứng và mất giá trị dinh dưỡng. Tốt hơn hết, nên rán cá ở cả hai mặt cho đến khi có vỏ vàng, sau đó nướng tiếp trong lò nướng 5-7 phút.
Sữa : không nên nấu sữa quá lâu và nấu sôi nhiều lần, nếu không protein trong sữa sẽ bị phân rã và các vitamin bị phá hủy. Khi nấu sôi sữa, không giữ trên lửa quá 1-2 phút. Khi nấu các thực phẩm khác như bột, gạo, rau... với sữa, trước hết cần nấu những thứ đó trong nước, sau mới đổ sữa tươi vào, đun tiếp đến sôi và bắc ra ngay.
Rau, quả : Khi bóc bỏ vỏ rau quả, nên cố gắng gọt làm sao cho mỏng, sau đó nên cố gắng nấu ngay, không nên để lâu rau quả đã làm sạch vỏ ngoài không khí. Nên nấu chúng với ít nước hoặc chỉ nấu cách thủy. Chỉ nêm làm các món rau trộn (salad) ngay trước khi ăn.
Nên rửa sạch quả, lấy bỏ hạt ngay trước khi đưa lên bàn ăn hay chế biến tiếp (như làm mứt). Khi làm quả nghiền hay làm nước ngọt từ quả tươi, trước hết nên ép lấy nước từ các quả đó, sau đó nấu phần còn lại trong nước khoảng 10 phút, lọc lấy nước, rồi đổ vào nước ép ban đầu và chỉ nấu tất cả đến khi sôi một lần, không hơn.
Thịt : nếu giữ thịt đông trong tủ lạnh, thì cần để tan trong vòng 2-3 giờ ở nhiệt độ trong phòng. Không cho thịt vào nước. Khi làm tan băng nhanh bằng cách cho thịt vào nước ấm, nước trong thịt sẽ bị mất, cùng với nó các protein có giá trị cũng tiêu hao. Cần rửa thịt nhanh dưới vòi nước lạnh, và nên thu xếp chế biến ngay. Nên nấu thịt bằng những miếng lớn và chỉ bỏ thịt vào nước sôi.
Khi làm thịt băm trộn bột bánh mì, nước thịt không bị mất nhiều nhờ có bột giữ lại. Nhưng cũng cần rán thịt băm cho đúng cách. Khi mỡ (dầu) vào chảo chưa nóng, lớp vỏ bảo vệ không hình thành được. Lớp ngoài bị quá nóng cũng không tốt: thịt bị cháy thành than, còn mỡ quá nóng bị phân hủy. Do vậy, cần rán thịt trong mỡ nóng, nhưng không bóc khói, kéo dài khoảng 10 phút, sau đó giữ tiếp trong lò nướng.
Hạt : Các loại hạt ít mất chất dinh dưỡng nhất. Nhưng không nên nấu chúng lâu. Bột mì chỉ nấu trong 10-15 phút; gạo, lúa mì trong 30-40 phút. Nên ngâm hạt đậu xanh, đậu Hà Lan trong nước lạnh khoảng 2 giờ, sau đó đổ nước đó đi, cho vào nước lạnh mới và nấu.
Mặc dù muối được coi là một trong các nguyên nhân gây “trục trặc”, nhưng ít ai hoàn toàn không cho muối vào thức ăn. Tuy vậy, trong việc có vẻ rất đơn giản này vẫn có những thủ thuật nhất định.
- Cho muối vào khoai tây nấu cả vỏ ngay từ đầu, nhưng đối khoai tây rán chỉ cho muối khi đã rán gần xong.
- Cho muối vào súp rau khi rau đã chín.
- Cho muối vào rau trộn ngay trước khi đưa lên bàn ăn. Nếu như cho muối vào từ trước, rau sẽ bị mất nhiều nước.
- Cho muối vào nước nấu thịt 30 phút trước khi nấu xong, cho vào cá lúc bắt đầu nấu, cho vào nấm lúc kết thúc.
- Nếu trước khi rán cá, bạn ướp muối và để 10-15 phút thì khi rán, cá sẽ không bị tróc.
- Cần cho muối vào thịt ngay trước khi rán, nếu không thịt sẽ bị mất nước và trở nên khô.
- Không nên cho muối vào gan khi rán, ngược lại gan sẽ bị cứng.
Để không làm mất vitamin, protein, mỡ, một số hoạt chất sinh học và các chất khoáng, bạn cần tuân thủ một số nguyên tắc sau :
Cá : Cần phải nấu cá không dưới 8-10 phút (đã cắt thành miếng nhỏ), hay nguyên con (từ 500g trở lên) không dưới nửa giờ. Cũng như đối với thịt, nên cho cá vào nước sôi, sau đó hạ lửa nhỏ xuống ngay. Khi rán, nhất định phải tẩm bột để cá không bị chảy mất nước. Và cần theo dõi không để rán quá, vì khi đó protein trở nên cứng và mất giá trị dinh dưỡng. Tốt hơn hết, nên rán cá ở cả hai mặt cho đến khi có vỏ vàng, sau đó nướng tiếp trong lò nướng 5-7 phút.
Sữa : không nên nấu sữa quá lâu và nấu sôi nhiều lần, nếu không protein trong sữa sẽ bị phân rã và các vitamin bị phá hủy. Khi nấu sôi sữa, không giữ trên lửa quá 1-2 phút. Khi nấu các thực phẩm khác như bột, gạo, rau... với sữa, trước hết cần nấu những thứ đó trong nước, sau mới đổ sữa tươi vào, đun tiếp đến sôi và bắc ra ngay.
Rau, quả : Khi bóc bỏ vỏ rau quả, nên cố gắng gọt làm sao cho mỏng, sau đó nên cố gắng nấu ngay, không nên để lâu rau quả đã làm sạch vỏ ngoài không khí. Nên nấu chúng với ít nước hoặc chỉ nấu cách thủy. Chỉ nêm làm các món rau trộn (salad) ngay trước khi ăn.
Nên rửa sạch quả, lấy bỏ hạt ngay trước khi đưa lên bàn ăn hay chế biến tiếp (như làm mứt). Khi làm quả nghiền hay làm nước ngọt từ quả tươi, trước hết nên ép lấy nước từ các quả đó, sau đó nấu phần còn lại trong nước khoảng 10 phút, lọc lấy nước, rồi đổ vào nước ép ban đầu và chỉ nấu tất cả đến khi sôi một lần, không hơn.
Thịt : nếu giữ thịt đông trong tủ lạnh, thì cần để tan trong vòng 2-3 giờ ở nhiệt độ trong phòng. Không cho thịt vào nước. Khi làm tan băng nhanh bằng cách cho thịt vào nước ấm, nước trong thịt sẽ bị mất, cùng với nó các protein có giá trị cũng tiêu hao. Cần rửa thịt nhanh dưới vòi nước lạnh, và nên thu xếp chế biến ngay. Nên nấu thịt bằng những miếng lớn và chỉ bỏ thịt vào nước sôi.
Khi làm thịt băm trộn bột bánh mì, nước thịt không bị mất nhiều nhờ có bột giữ lại. Nhưng cũng cần rán thịt băm cho đúng cách. Khi mỡ (dầu) vào chảo chưa nóng, lớp vỏ bảo vệ không hình thành được. Lớp ngoài bị quá nóng cũng không tốt: thịt bị cháy thành than, còn mỡ quá nóng bị phân hủy. Do vậy, cần rán thịt trong mỡ nóng, nhưng không bóc khói, kéo dài khoảng 10 phút, sau đó giữ tiếp trong lò nướng.
Hạt : Các loại hạt ít mất chất dinh dưỡng nhất. Nhưng không nên nấu chúng lâu. Bột mì chỉ nấu trong 10-15 phút; gạo, lúa mì trong 30-40 phút. Nên ngâm hạt đậu xanh, đậu Hà Lan trong nước lạnh khoảng 2 giờ, sau đó đổ nước đó đi, cho vào nước lạnh mới và nấu.
Mặc dù muối được coi là một trong các nguyên nhân gây “trục trặc”, nhưng ít ai hoàn toàn không cho muối vào thức ăn. Tuy vậy, trong việc có vẻ rất đơn giản này vẫn có những thủ thuật nhất định.
- Cho muối vào khoai tây nấu cả vỏ ngay từ đầu, nhưng đối khoai tây rán chỉ cho muối khi đã rán gần xong.
- Cho muối vào súp rau khi rau đã chín.
- Cho muối vào rau trộn ngay trước khi đưa lên bàn ăn. Nếu như cho muối vào từ trước, rau sẽ bị mất nhiều nước.
- Cho muối vào nước nấu thịt 30 phút trước khi nấu xong, cho vào cá lúc bắt đầu nấu, cho vào nấm lúc kết thúc.
- Nếu trước khi rán cá, bạn ướp muối và để 10-15 phút thì khi rán, cá sẽ không bị tróc.
- Cần cho muối vào thịt ngay trước khi rán, nếu không thịt sẽ bị mất nước và trở nên khô.
- Không nên cho muối vào gan khi rán, ngược lại gan sẽ bị cứng.
(sưu tầm)
Giúp chàng lấy lại phong độ 'yêu'
Áp lực công việc nặng nề khiến nhiều ông chồng mệt mỏi thú nhận ngày càng không thiết tha với “chuyện ấy”.Để giúp chồng lấy lại phong độ “yêu”, các bà nội trợ hãy trổ tài với các món ăn dưới đây :
- Đỗ trọng hầm đuôi lợn : Đỗ trọng, tục đoạn đều 20g, đuôi lợn 50g. Đuôi lợn rửa sạch, chặt khúc. Hai vị thuốc trên rửa sạch. Cho cả 3 thứ vào nồi, đổ nước, hầm tới khi đuôi lợn mềm nhừ, nêm gia vị là dùng được. Ăn liên tục trong vòng một tuần. Món ăn có tác dụng bổ thận tráng dương, tăng cường sức khỏe. Những người bị suy thận, di tinh, cơ thể suy nhược nên sử dụng.
- Lòng non lợn, ba kích hầm cách thủy : Ba kích 40g, lòng non 50g, gia vị đủ dùng. Ba kích rửa sạch, cắt mỏng hoặc băm. Lòng non rửa sạch. Nhồi ba kích vào trong lòng non, để vào bát đem hầm cách thủy, ăn liên tục trong vòng 7 ngày. Món ăn có tác dụng bổ thận tráng dương, ích khí huyết. Rất thích hợp với những người dương suy, di tinh, đau lưng, mỏi gối.
- Trứng gà chưng đông trùng hạ thảo : Đông trùng hạ thảo 5g, trứng gà tươi một quả, đường phèn đủ dùng. Đông trùng hạ thảo nghiền nhỏ, đem đánh với trứng gà và đường phèn, cho vào bát, chưng cách thủy. Ăn liên tục trong vòng 7 ngày. Những người cơ thể suy nhược, hay bị ra mồ hôi, đau lưng, di tinh, ngại “chuyện ấy” nên dùng.
- Gà nấu thận chó, thỏ ty tử : Gà giò 1kg, thận chó một đôi; thỏ ty tử, ba kích, câu kỷ tử đều 20g, rượu, gia vị đủ dùng. Gà làm sạch, bỏ nội tạng, thận chó làm sạch. Ướp gà và thận chó với gia vị, rượu, gừng trong vòng 30 phút. Cho các vị thuốc trên vào túi vải buộc kín. Cho tất cả vào nồi, đổ nước, hầm tới khi gà chín nhừ là dùng được. Ăn cả nước lẫn cái. Món ăn có tác dụng tráng dương bổ thận, ích tinh tủy. Những người bị di tinh, đau lưng, cơ thể suy nhược, lao tổn nên dùng.
BS Đào Minh Sơn
Theo Sức khỏe và Đời sống
Theo Sức khỏe và Đời sống
Suy dinh dưỡng : Kẻ thù giấu mặt của thai nhi
Suy dinh dưỡng bào thai có thể ảnh hưởng xấu tới não bộ, sự phát triển thể chất và thậm chí còn gây ra các dị tật bẩm sinh cho trẻ từ trong bụng mẹ. Nó là kẻ thù giấu mặt của thai nhi và là nỗi lo của rất nhiều cặp vợ chồng.Thai suy dinh dưỡng không trừ ai
Trước đây, do đời sống chung khó khăn, chuyện trẻ sơ sinh bị suy dinh dưỡng không hiếm. Nhưng hiện giờ, dù chất lượng cuộc sống đã được cải thiện đáng kể, tình trạng trẻ suy dinh dưỡng ngay cả trong bào thai vẫn khá phổ biến. Nó không chỉ gặp ở các bà bầu có vóc dáng nhỏ bé mà còn tấn công cả những bà mẹ cao lớn. Giải thích vấn đề này, TS Nguyễn Viết Tiến, Trưởng bộ môn phụ sản Đại học Y Hà Nội, cho biết: "Lựa chọn độ tuổi sinh con là vấn đề vô cùng quan trọng, nhưng nhiều gia đình đã bỏ qua vì các lý do khác nhau. Hầu hết những trường hợp thai chậm phát triển trong tử cung xảy ra với phụ nữ ở tuổi dưới 20 và trên 40. Rất nhiều người cũng không ý thức được sự quan trọng đặc biệt của thời kỳ ba tháng đầu, rằng bất kỳ một sai lầm nào về thực phẩm cũng có thể gây hại cho sự phát triển của trẻ. Nếu rơi vào trường hợp chậm phát triển trong tử cung ở giai đoạn đầu cần theo dõi sát cho tới khi thai trưởng thành"
Hồ sơ bệnh án ở Bệnh viện Phụ sản Hà Nội cho thấy, thai suy dinh dưỡng hoặc chậm phát triển trong tử cung có tỷ lệ tử vong cao hơn từ 4-8 lần so với những trường hợp bình thường bởi nhiều yếu tố khác nhau. Đầu tiên phải nói tới thể chất của người mẹ như: chiều cao, cân nặng, yếu tố di truyền, bệnh lý mãn tính... Bên cạnh đó, tử cung bị dị dạng, hệ thống tuần hoàn của mẹ kém cũng sẽ làm chậm tuần hoàn nhau thai. Thai nhi cũng sẽ gặp nguy hiểm nếu có dấu hiệu bất thường về nhiễm sắc thể như: tam bội 13, 18, 21; đa thai; bệnh lây nhiễm ở thai như: HIV, Rubella, parvovirus B19.
Chất lượng hơn số lượng
Vì muốn con mình thông minh và khỏe mạnh, thậm chí là vượt trội so với con nhà khác, nên không ít người cho rằng ăn càng nhiều thai nhi càng phát triển tốt. Tuy nhiên, thực tế không phải vậy. Điều quan trọng là phải đảm bảo được chế độ dinh dưỡng của từng bữa ăn. Ăn uống sao để đủ chất mà không bị thừa cân, tránh rơi vào tình trạng con bị béo phì, mắc bệnh tim mạch bẩm sinh là việc không hề dễ dàng.
Th.S Nguyễn Duy Ánh, Phó Giám đốc Bệnh viện Phụ sản Hà Nội, chia sẻ: "Chúng tôi vẫn khuyên các bà mẹ chỉ nên tăng từ 9-12 kg với các trường hợp thông thường, còn với đa thai thì cần tăng thêm khoảng 6kg nữa. Thế nhưng có nhiều người vẫn sinh hoạt theo cảm hứng, ăn nhiều mà lại không đủ chất nên tình trạng thiếu máu do sắt vẫn diễn ra khá phổ biến (chiếm tới gần 50%). Hậu quả là thai nhi không được nuôi dưỡng tốt, trẻ sinh ra dễ bị nhiễm trùng, chỉ số thông minh thấp". Cũng có trường hợp mẹ được chăm sóc tốt nhưng thai vẫn chậm phát triển. Đó là do quá trình chuyển chất từ mẹ sang con bị ngăn cản - một biểu hiện không bình thường của bánh nhau. Người mẹ nên đi khám ngay khi phát hiện dấu hiệu này, bởi càng để lâu thì khả năng ảnh hưởng xấu tới sức phát triển của thai càng lớn.
Tăng dinh dưỡng cho thai
Ăn nhiều loại thực phẩm để bổ sung đa dạng dưỡng chất, ngoài ba bữa chính cần bổ sung thêm 2-3 bữa phụ.
Lượng thực phẩm ăn từng bữa đều phải tăng hơn những lúc chưa mang thai (tùy theo cơ thể) để đảm bảo nguồn năng lượng nuôi thai nhi.
Cần chú trọng tới một số thực phẩm giàu đạm như: thịt, cá, tôm, cua, trứng, sữa, các loại đậu... Trung bình nên ăn khoảng 150-200gr thịt cá/ngày và chỉ nên dùng dầu thực vật, muối i-ốt để chế biến thức ăn. Bên cạnh đó nên bổ sung thêm khoáng chất cho thai nhi bằng cách uống hai ly sữa mỗi ngày.
Hãy ăn nhiều rau và trái cây tươi để tăng cường sức đề kháng cho cơ thể người mẹ và cung cấp đều đặn vitamin cho bé.
Nên uống nhiều nước, tối thiểu hai lít mỗi ngày để giúp cơ thể thải độc.
Những điều cần lưu ý
Không ăn quá nhiều calci: Quá trình mang thai, người mẹ rất cần bổ sung calci (800gr/ngày cho giai đoạn đầu, sau tăng lên 1100gr/ngày). Tuy nhiên, nếu ăn quá nhiều rất dễ khiến cho thai nhi bị thừa calci trong máu. Khi trẻ ra đời, thóp sẽ kín quá sớm, xương hàm rộng và nhô ra, động mạch chủ có thể bị thu hẹp.
Không ăn nhiều đồ ngọt có đường: Trong quá khứ các nhà y học thuộc Học viên Quốc gia Italia đã từng công bố nghiên cứu: Phụ nữ mang thai nếu ăn nhiều đường có thể khiến trẻ quá nặng cân và tỷ lệ dị dạng bẩm sinh cao, nguyên nhân là do chức năng thải đường ở phụ nữ mang thai giảm hơn so với người thường.
Không ăn nhiều mỡ: Ăn quá nhiều mỡ với một cơ thể bình thường vốn đã không tốt, còn phụ nữ mang thai sẽ trở nên nguy hiểm vì khả năng ung thư hệ sinh dục của trẻ (vú, buồng trứng, cổ tử cung) xảy ra phổ biến hơn, nhất là kết hợp với khả năng di truyền.
Không ăn quá mặn và chua thời kỳ đầu: Ăn mặn nhiều thì nguy cơ bị huyết áp cao càng lớn, biểu hiện là phù nề, nếu bị nặng có thể đau đầu, hoa mắt... Ăn chua quá nhiều giai đoạn đầu có thể làm tích vào bào thai, ảnh hưởng xấu tới khả năng phát triển của trẻ.
Không ăn thực phẩm đã bị biến chất: Bản thân bà bầu có thể bị trúng độc cấp tính hoặc mãn tính nếu ăn phải thực phẩm như vậy, nhưng nguy hiểm hơn có thể khiến thai chết lưu hoặc bị dị tật khi chào đời, do độc tố phá vỡ liên kết nhiễm sắc thể.
Không uống chất kích thích: Rượu, bia và những chất có ga cần được hạn chế tới mức tối đa. Cồn trong rượu, bia đi qua cuống nhau thai sẽ khiến cho thai phát triển chậm, trường hợp uống nhiều còn gây dị dạng cho thai nhi như: đầu nhỏ, mắt to, cằm ngắn, thân ngắn, dễ mắc bệnh...
Theo Sức khoẻ & Đời sống
Cho trẻ ăn trứng như thế nào?
Trứng là thức ăn bổ tốt với trẻ em, trong trứng có nhiều chất đạm, chất béo, muối khoáng và các loại vitamin. Chất đạm của trứng có đầy đủ các loại axit amin cần thiết ở tỷ lệ cân đối do đó trẻ dễ hấp thu.Lòng đỏ trứng có nhiều chất đạm, chất béo, vitamin và muối khoáng nên bổ hơn lòng trắng, nhưng lòng trắng lại chiếm gần nửa khối lượng quả trứng, thành phần chủ yếu là chất đạm, bỏ đi rất lãng phí, vì vậy trẻ từ 1 tuổi trở lên nên cho ăn cả lòng trắng.
Thành phần các chất dinh dưỡng trong trứng gà và trứng vịt không khác nhau lắm, nhưng trứng vịt vỏ xốp hơn dễ bị vi khuẩn xâm nhập, mùi vị không thơm bằng trứng gà, cho nên trẻ nhỏ dưới 2 tuổi tốt nhất là nên ăn trứng gà, trứng vịt nên dùng chế biến cho trẻ từ 2 tuổi trở lên.
Cách cho trẻ ăn trứng như thế nào?
Không nên cho trẻ ăn trứng sống vì khó tiêu và dể bị nhiễm khuẩn, tốt nhất là luộc lòng đào hoặc quấy lẫn với cháo, bột, súp nhưng cho trứng vào khi bột, cháo, súp đã chín, đun sôi trở lại bắc ra ngay, không nên đun quá kỹ. Trẻ từ 5 tháng tuổi trở lên bát đầu cho ăn trứng từ ¼ lòng đỏ đến một quả. Một tuần ăn 3-4 lần. Trẻ trên 2 tuổi mỗi ngày có thể ăn được một quả. Khi mới tập ăn trứng có thể dùng trứng chim cút cho tiện, 4-5 quả trứng chim cút bằng một quả trứng gà.
PGS Nguyễn Thị Lâm
Viện dinh dưỡng quốc gia
Theo VnExpress
Viện dinh dưỡng quốc gia
Theo VnExpress
Mệt mỏi sau sinh nên ăn bạch tuộc
Món bạch tuộc không chỉ ngon miệng mà còn có tác dụng bồi bổ sức khỏe rất tốt, phù hợp với những người bị thiếu máu, kém tiêu hóa hay sản phụ suy nhược sau khi sinh.Trong y học cổ truyền, thịt bạch tuộc có tên thuốc là chương ngư, có tác dụng ích khí, dưỡng huyết, thông sữa, sinh cơ, chữa cơ thể gầy yếu, thần kinh suy nhược, tắc tia sữa. Dạng dùng thông thường là nướng giòn, tán thành bột. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 6-10 g, có thể đến 20 g với nước ấm hoặc rượu.
Cũng có thể dùng bạch tuộc dưới dạng thức ăn - vị thuốc theo các cách chế biến sau: Thịt bạch tuộc 50-100 g, thái miếng; lạc 60 g ngâm nước cho tróc vỏ ngoài, lấy nhân, giã nát. Cho hai thứ vào nồi cùng với nước vừa đủ, nấu đến dừ nhuyễn, thêm gia vị và ít rượu. Ăn cái, uống nước làm một lần trong ngày.
Để chữa cơ thể suy nhược sau đẻ, lấy thịt bạch tuộc 100 g, thái nhỏ, phơi khô; chân giò lợn một cái, chặt miếng. Cho hai thứ vào nước, ninh thật nhừ nhuyễn. Ăn vào hai bữa cơm hằng ngày.
Để chữa thiếu máu, chậm tiêu, lấy thịt bạch tuộc để tươi 100-200 g, rửa sạch, thái nhỏ. Xào với dầu ăn cho săn cạnh, thêm 1-2 thìa nước gừng và 200 ml nước. Nấu cho chín nhừ. Ăn làm hai lần trong ngày.
Theo Sức Khỏe & Đời Sống
Nguy cơ bệnh tật do ăn nhiều thịt
Một nghiên cứu được thực hiện bởi tổ chức Chiến dịch Nghiên cứu viêm khớp cho thấy những người ăn thịt mỗi ngày sẽ có nguy cơ mắc bệnh gấp đôi so với những người ăn ít thịt (2 lần/tuần).Viêm khớp
Viêm thấp khớp là hậu quả của tình trạng hệ miễn dịch tấn công các khớp, gây ra đau và cứng khớp.
Ăn nhiều thịt đỏ (nhiều hơn 5 khẩu phần mỗi tuần) được nhận diện là 1 yếu tố nguy cơ. Một nghiên cứu được thực hiện bởi Chiến dịch Nghiên cứu viêm khớp cho thấy những người ăn thịt mỗi ngày sẽ có nguy cơ mắc bệnh gấp đôi so với những người ăn ít thịt (2 lần/tuần).
Các nhà khoa học nghiên cứu thói quen dinh dưỡng của 25 ngàn người cho biết collagen trong thịt đã kích thích sự hưởng ứng của hệ miễn dịch.
Một thành phần khác là lượng sắt cao trong thịt. Chất sắt được tích lũy trong khớp cũng sẽ gây hại cho khu vực này.
Sỏi mật
Sỏi mật hình thành khi một lượng mật hóa rắn. Nó có thể gây đau đớn và bệnh nhân cần phải làm phẫu thuật.
Một trong những nguyên nhân là do ăn quá nhiều chất béo no (có trong thịt). Một nghiên cứu với hơn 45 ngàn nam giới đã cho thấy những người ăn nhiều thịt có nguy cơ bị sỏi mật cao hơn những người ăn rau hay các chất béo không no là 18%.
Một chế độ ăn nhiều chất béo không no sẽ làm tăng mức độ nhạy của insulin, có tác dụng ngăn ngừa hình thành sỏi mật.
Alzheimer
Bệnh Alzheimer liên quan với sự hình thành các mảng protein (beta-amyloid) trong não.
Việc nạp một lượng lớn vitamin chống ôxy hóa và các hợp chất thực vật có lợi (polyphenol) trong rau quả được cho là giúp chống hình thành mảng protein trong não.
Một nghiên cứu của ĐH Columbia nhận thấy những người có vấn đề về trí nhớ sẽ giảm được 48% nguy cơ mất trí nhớ nếu tuân thủ chế độ ăn kiểu Địa Trung Hải (ít thịt, nhiều rau) so với những người không áp dụng cách ăn này thường xuyên.
Nguy cơ mắc các vấn đề về trí nhớ sẽ giảm 1/3 nếu giảm thịt, ăn nhiều rau quả và ngũ cốc.
Loãng xương
Bệnh loãng xương ảnh hưởng tới 1/3 phụ nữ và 1/12 nam giới vào một thời điểm nào đó trong cuộc đời.
Theo Hiệp hội Loãng xương Anh, nạp quá nhiều protein động vật từ thịt đỏ có thể làm ảnh hưởng tới sức khỏe của hệ xương.
Khi thịt được tiêu hóa, nó sẽ sản xuất ra rất nhiều axit. Những axit này sẽ được trung hòa bởi các khoáng chất như canxi và nếu cơ thể không được bổ sung đủ, cơ thể sẽ "rút" chất này từ hệ xương.
Rau lá xanh như bắp cải và cải xoăn rất giàu canxi trong khi thịt thì ngược lại.
Ngộ độc thực phẩm
Mặc dù có rất nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm liên quan với các sản phẩm từ sữa, các loại động vật có vỏ và các loại sa lát không được rửa sạch, thịt lợn và thịt đỏ cũng là một trong những nguyên nhân chính.
Thịt đỏ sống có chứa rất nhiều khuẩn nguy hiểm như E. coli, salmonella và campylobacter mà có thể gây ngộ độc.
Các nghiên cứu của Tổ chức An toàn thực phẩm cho thấy 89% những người không cất thịt vào hộp riêng để tránh nhiễm sang thực phẩm khác và 63% không rửa tay sau khi sờ vào thịt sống chính là thủ phạm khiến các khuẩn độc lây truyền, gây ra các vụ ngộ độc lớn.
Nhân Hà
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
Sò huyết bổ máu, tăng sức dẻo dai
Sò huyết không chỉ là hải sản ngon, bổ mà nó còn là đặc sản dành riêng cho những cặp vợ chồng đang hưởng tuần trăng mật vì tính chất đặc biệt "đại bổ" của nó.Theo y học cổ truyền, sò huyết có vị ngọt, tính mặn, có tác dụng bổ huyết, kiện vị, chữa chứng huyết hư, thiếu máu. Trong con sò huyết có nguồn chất đạm phong phú, chứa nhiều khoáng chất có giá trị dinh dưỡng cao như magne và kẽm, hai chất này giúp tăng cường sức chịu đựng dẻo dai cho cơ thể. Trong 100g sò huyết có các thành phần chính: 81,3g moisture; 11,7g protein; 1,2g lipid; các chất khoáng; các loại vitamin A, B1, B2, C; giá trị năng lượng 71,2 Kcal.
Cách chọn và chế biến sò huyết: nên chọn sò huyết tươi, sống. Người ta thường dùng thịt sò huyết để chế biến các món ăn. Rửa sạch sò, đun sôi nước, tắt bếp rồi đổ sò vào, đậy kín vung trong 5 phút là có thể dùng được.
Các món ăn :
Cháo sò huyết, trứng muối : gạo tẻ ngon 200g, sò huyết tươi 500g, trứng vịt muối 1 quả, gừng, gia vị, hành, hạt tiêu đủ dùng. Sò huyết rửa sạch bùn đất, đun sôi nước rồi thả vào, ngâm 5 phút vớt ra, cạy lấy thịt. Sau đó ướp sò huyết với dầu, hành gia vị. Gạo tẻ thơm nấu nhừ thành cháo. Khi cháo chín cho trứng muối vào khuấy đều, đổ sò huyết vào nấu sôi là dùng được.
Sò huyết xào nui : nui 100g, sò huyết 100g, cà chua, nấm rơm, hành tây, gia vị đủ dùng. Nui luộc chín tới, ngâm nước lạnh, vớt ra trộn với 1 ít dầu ăn cho nui đỡ dính. Thịt sò huyết sốt cùng với cà chua, tỏi. Hành tây, cà chua, nấm rơm thái nhỏ. Phi thơm tỏi rồi đổ tất cả các thứ trên đun nhỏ lửa, cho thêm nước đến khi hỗn hợp hơi sệt thì cho sò huyết vào đảo cùng. Nên ăn món này lúc nóng.
Sò huyết sốt me : 1kg sò huyết, 50g me chín, đường, muối, tỏi, gia vị vừa đủ. Sò huyết rửa sạch, để ráo nước. Me chín cho vào đun với nước, bỏ hạt. Phi thơm tỏi rồi cho nước me, gia vị quấy đều, đun khoảng 5 phút. Thịt sò đã hấp, phi hành tỏi, xào to lửa, rồi đổ nước sốt có me vào đun khoảng 5 phút là được.
BS. Thu Nga
Theo Người Lao Động Online
Theo Người Lao Động Online
Phòng chống bệnh "mệt" não
Não dùng càng nhiều càng phản ứng nhanh nhạy nhưng nếu quá độ lại có thể làm cho não trở nên “ngu ngốc”. Một cuộc khảo sát tại thành phố Thượng Hải-Trung Quốc cho thấy có tới 60% có thói quen làm việc về đêm, 80% trong số này mắc bệnh “mệt não”.3 Loại người dễ mệt não
Theo BS Thôi Hải Tùng - Phó chủ nhiệm khoa Sức khoẻ, Bệnh viện Đồng Tế, thuộc trường ĐH Đồng Tế, có 3 loại người dễ mắc bệnh mệt não. Loại thứ nhất là người có cá tính mạnh mẽ, những người này không cho phép mình “thua” hoặc theo sau người khác. Loại thứ hai là những người luôn theo đuổi “sự hoàn mỹ”, suy nghĩ công việc và cách làm đều rất toàn diện và chi tiết, không muốn bỏ sót hay sơ suất. Loại thứ 3 là những người thích cạnh tranh, tư tưởng “ta phải thắng” lúc nào cũng thường trực trong tâm trí họ.
Còn một yếu tố không thể xem nhẹ đó là internet ngày càng phổ cập. Khoa học chứng minh, khả năng tiếp nhận tin tức của não bộ thật đáng kinh ngạc, trong khoảng 1/10 giây, não bộ có thể tiếp nhận 1.000 đơn vị thông tin. Nếu trong quãng thời gian ngắn tiếp thu một lượng thông tin cực lớn, não bộ sẽ bị những thông tin “hỗn tạp” can thiệp từ đó dẫn tới bệnh lý. Vì vậy, bác sĩ Thôi Hải Tùng nhấn mạnh, sự phát triển và tiến bộ của khoa học đem lại cho chúng ta nhiều tiện lợi nhưng cũng làm cho chúng ta xem nhiều, đọc nhiều, nghĩ nhiều, từ đó trực tiếp gây ra mệt não.
Biểu hiện của mệt não
Biểu hiện đầu tiên của mệt não là mất ngủ. Trong thời gian dài, năng lượng của não bộ bị tiêu hao nhiều, não thường xuyên trong trạng thái căng thẳng, tức là hưng phấn quá độ, gây ra khó ngủ.
Thứ hai là khi não quá mệt mỏi, lượng máu lưu thông trong não sẽ tăng lên, đặc biệt là những người tầm độ tuổi 40, trong thời gian dài để cho não bộ ở trong trạng thái mệt mỏi thì sẽ tăng thêm nguy cơ bị đột quỵ.
Thứ ba, nếu sử dụng não quá độ và liên tục trong thời gian dài, nhẹ thì sẽ xuất hiện một số vấn đề về tâm lý như: tâm trạng không ổn định, vô cớ nổi nóng, buồn bã… Nặng thì sẽ dẫn đến chứng bất an lo lắng và chứng trầm cảm. Điều này là do dùng não quá nhiều sẽ làm cho khả năng ức chế xúc cảm của thần kinh trung ương giảm thấp, khả năng đối phó với áp lực bên ngoài cũng theo đó bị suy giảm, từ đó gây ra chứng trầm cảm.
Làm thế nào để não thư giãn?
Thay đổi một chút thói quen sinh hoạt. Một nghiên cứu của Anh chỉ rõ, nếu đổi tay khác đánh răng, nhắm mắt khi tắm, thay đổi đường đi làm, chơi game đố chữ, nghe nhạc… thì não sẽ bớt mệt mỏi.
Ra ngoại ô câu cá. Lao động miệt mài trong thời gian dài làm cho não thể mất cân bằng, tiếp cận với môi trường tự nhiên là một phương thức rất tốt để cho não nghỉ ngơi, đặc biệt là ra vùng ngoại ô, nơi có không khí trong lành để câu cá, cảm thụ được sụ yên bình và thoải mái, làm cho não ở trong trạng thái được thư giãn và nghỉ ngơi.
Tập luyện thể thao. Bạn có thể đến phòng tập thẩm mỹ, có thể tập ngoài trời. Mỗi ngày kiên trì vận động khoảng 30 phút, ví dụ như chạy bộ, đi bộ nhanh, thể dục thẩm mỹ, tập thể hình đều tốt.
Thực phẩm giàu vitamin A và kẽm. Thường ngày ăn nhiều gan động vật, thịt nạc, lòng đỏ trứng, các loại đậu, các loại rau xanh, cà rốt…
Thường xuyên nói chuyện tán gẫu với mọi người. Như thế không những có thể chuyển hướng sự tập trung mà còn có thể kịp thời “tiêu tán” những cảm giác bực bội, khó chịu ẩn sâu trong lòng, giảm bớt được nguy cơ mắc bệnh thần kinh.
Theo Dân Trí
6 Cách giúp cơ thể kháng viêm
Những người có khuynh hướng viêm đau cần phải uống nhiều nước hơn người bình thường vì nước sẽ giúp “dội” đi những độc chất trong cơ thể vốn góp phần vào quá trình viêm.Viêm là một “ nhiệm vụ” vô cùng quan trọng cho hệ thống phòng ngự của cơ thể chống lại sự nhiễm trùng hoặc chấn thương. Viêm sẽ tạo ra một “cơn bão lửa” mà trong đó hệ miễn dịch đã được hoạt hóa để sẵn sàng chiến đấu với những vi sinh vật lạ và giúp máu mang những chất dinh dưỡng đến để chữa lành vết thương.
“Sát nhân” thầm lặng
“Cơn bão lửa” này sẽ gây sưng, nóng, đỏ, đau... nói chung là đủ thứ “hỉ, nộ, ái, ố”. Những dấu hiệu này tuy gây khó chịu nhưng đây là phản ứng của một cơ thể khỏe mạnh để chống lại sự tấn công của vi trùng và thường được kết thúc một cách mau chóng.
Thế nhưng, khi “cơn bão lửa” nằm ngoài tầm kiểm soát, nó trở nên phản tác dụng, gây tổn hại mô, can thiệp vào quá trình chữa trị và gây viêm mãn tính. Viêm mãn tính đôi khi được xem là một “sát nhân” thầm lặng. Y học ngày nay đã công nhận rằng viêm mãn tính là nguyên nhân gây ra các bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh lão suy và thậm chí ung thư. Đây cũng là nguyên nhân gây rối loạn khớp, suyễn, dị ứng...
Tuổi tác được cho là một yếu tố gây viêm mãn tính, tuy nhiên chỉ trong một phạm vi nào đó. Dinh dưỡng và lối sống cũng chính là nguyên nhân chủ yếu. Nhiều thầy thuốc đã chữa trị viêm mãn tính bằng cách kê các loại toa thuốc kháng viêm giảm đau... Nhưng thật không may, sự an toàn của những loại thuốc này đang được đặt một dấu chấm hỏi, những vụ thưa kiện kéo dài triền miên, một số thuốc đã bị thu hồi bởi vì những tác dụng phụ nguy hiểm của chúng.
Kiểm soát viêm mãn tính
Thật may mắn, vẫn còn những phương cách khác mà chúng ta có thể thực hiện nhằm kiểm soát sự viêm mãn tính không mong muốn qua chế độ dinh dưỡng và lối sống. Có thể đi một bước xa hơn trong việc phòng chống các bệnh về tim mạch, tăng cường hệ miễn dịch, ngăn ngừa thấp khớp và những căn bệnh thoái hóa khác qua việc tiếp nhận thói quen dinh dưỡng và lối sống dưới đây :
1. Tăng mức tiêu thụ omega-3. Omega-3 và omega-6 thuộc một họ chất béo được gọi là acid béo thiết yếu nhằm giúp hạn chế quá trình viêm theo một cơ chế tự nhiên. Những nguồn thực phẩm cung cấp các acid béo thực vật gồm dầu ôliu, hạt điều, trái bơ, hạt mè, hạt bí đỏ (bí rợ), dầu hạt cải...
2. Ăn nhiều cá và hải sản. Lựa chọn tốt nhất là cá hồi, cá tuna, cá thu và những loại hải sản có chứa nhiều chất béo.
Những loại thực phẩm này sẽ cung cấp chất béo omega-3, giúp điều hòa sự sản sinh các chất gây viêm có tên là eicosanoid. Eicosanoid được hình thành từ chất béo trong cơ thể bởi cyclooxygenase (COX-1 và COX-2). Hải sản sẽ cung cấp cho cơ thể chúng ta các chất EPA (eicosapetaenoic acid) và DHA (docosahexaenoic acid). Đây là những chất béo omega-3 đóng vai trò quan trọng trong quá trình kháng viêm.
3. Tránh những chất béo dạng “trans”. Đây là chất béo chuyên ẩn mình trong các loại bánh chiên, bánh phồng tôm, bơ đậu phộng và những loại thức ăn nhanh.
4. Ăn nhiều rau cải, trái cây. Để làm hạn chế quá trình viêm, người bệnh cần ăn nhiều chất xơ, vitamin, khoáng chất...
5. Tập thể dục đều đặn, cho dù chỉ là những động tác đơn giản. Tập thể dục đều đặn còn giúp cơ thể giảm stress, trong khi stress được cho là “kẻ đồng phạm” thúc đẩy sự viêm.
6. Uống nhiều nước. Những người có khuynh hướng viêm đau cần phải uống nhiều nước hơn người bình thường vì nước sẽ giúp “dội” đi những độc chất trong cơ thể vốn góp phần vào quá trình viêm. Cũng cần nên biết rằng một số loại thực phẩm đã có sẵn hàm lượng nước đáng kể như trái cây, rau, củ quả...
Dược sĩ Nguyễn Bá Huy Cường
Theo Tuổi Trẻ Online
Theo Tuổi Trẻ Online



