Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh ung thư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh ung thư. Hiển thị tất cả bài đăng
8 Dấu hiệu ung thư hàng đầu
Tám triệu chứng bất thường này hầu hết đều có liên quan tới một bệnh ung thư nào đó, các nhà nghiên cứu nhấn mạnh.
Theo BBC, nhóm nghiên cứu từ Đại học Keele (Anh) cũng chỉ ra độ tuổi mà bệnh nhân cần lưu ý nhất khi gặp phải các triệu chứng dưới đây.
Các bác sĩ khuyến cáo người dân nên đi khám ngay khi có những dấu hiệu bất thường này, bởi với mỗi triệu chứng như vậy, nguy cơ bị ung thư là 1/20 hoặc cao hơn.
Tổng hợp kết quả của 25 công trình trước đó, nhóm nghiên cứu phát hiện thấy, với bệnh nhân dưới 55 tuổi, chỉ cần có 2 dấu hiệu trong nhóm trên thì nguy cơ bị ung thư đã là 1/20.
Ở đàn ông ngoài 55 tuổi, khó nuốt có thể là dấu hiệu của ung thư thực quản, trong khi đi tiểu ra máu là dấu hiệu đặc biệt lo ngại với cả đàn ông và phụ nữ trên 60.
Tuy nhiên, phát ngôn viên của Viện Nghiên cứu Ung thư Anh cũng cho biết, những dấu hiệu trên không phải là dấu hiệu duy nhất cảnh báo ung thư.
"8 dấu hiệu trên là đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, có hơn 200 loại ung thư, có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nữa".
Vì thế, nếu bạn nhận ra có bất thường hoặc thay đổi lâu ngày trong cơ thể mình, điều quan trọng là hãy đi kiểm tra. Phát hiện ung thư sớm thì thường điều trị thành công".
Theo BBC, nhóm nghiên cứu từ Đại học Keele (Anh) cũng chỉ ra độ tuổi mà bệnh nhân cần lưu ý nhất khi gặp phải các triệu chứng dưới đây.
- Đi tiểu ra máu
- Thiếu máu
- Chảy máu đường ruột
- Ho ra máu
- Cục ở vú
- Khó nuốt
- Ra máu ngoài kỳ kinh
- Xét nghiệm bất thường ở tuyến tiền liệt
Các bác sĩ khuyến cáo người dân nên đi khám ngay khi có những dấu hiệu bất thường này, bởi với mỗi triệu chứng như vậy, nguy cơ bị ung thư là 1/20 hoặc cao hơn.
Tổng hợp kết quả của 25 công trình trước đó, nhóm nghiên cứu phát hiện thấy, với bệnh nhân dưới 55 tuổi, chỉ cần có 2 dấu hiệu trong nhóm trên thì nguy cơ bị ung thư đã là 1/20.
Ở đàn ông ngoài 55 tuổi, khó nuốt có thể là dấu hiệu của ung thư thực quản, trong khi đi tiểu ra máu là dấu hiệu đặc biệt lo ngại với cả đàn ông và phụ nữ trên 60.
Tuy nhiên, phát ngôn viên của Viện Nghiên cứu Ung thư Anh cũng cho biết, những dấu hiệu trên không phải là dấu hiệu duy nhất cảnh báo ung thư.
"8 dấu hiệu trên là đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, có hơn 200 loại ung thư, có thể gây ra nhiều triệu chứng khác nữa".
Vì thế, nếu bạn nhận ra có bất thường hoặc thay đổi lâu ngày trong cơ thể mình, điều quan trọng là hãy đi kiểm tra. Phát hiện ung thư sớm thì thường điều trị thành công".
T. An
Theo VnExpress
Theo VnExpress
5 Thói quen giúp tránh xa bệnh ung thư vú
Bệnh ung thư vú đáng sợ nhưng cũng rất dễ phòng chống.

1. Thường xuyên vận động
Hiệp hội Ung thư quốc gia Mỹ khẳng định: vận động có thể làm cho tỉ lệ phát sinh ung thư vú giảm 60% ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh.
Một nghiên cứu tại Na Uy sau khi tiến hành điều tra 25.624 phụ nữ phát hiện, những phụ nữ vận động ít nhất 4 tiếng/tuần thì nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến sữa giảm xuống 37%.
2. Duy trì thể trọng hợp lý
Một nghiên cứu của trường đại học Harvard chứng minh, nữ giới sau 18 tuổi có xu hướng tăng cân nhanh. Nếu tăng cân ở giai đoạn mãn kinh nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao gấp đôi so với những phụ nữ duy trì được thể trọng chuẩn.
3. Không uống rượu
Các chuyên gia Mỹ cho rằng, nếu mỗi ngày uống rượu 1 lần, nguy cơ mắc chứng ung thư tuyến sữa sẽ tăng 11%, nếu uống 2 lần/ngày thì nguy cơ tăng 24%. Nếu mỗi ngày uống nhiều hơn 2 lần thì nguy cơ tăng 40%. Vì vậy, khuyến cáo những người phụ nữ thích uống rượu, tốt nhất mỗi tuần không nên uống quá 3 lần và phải khống chế định mức, định lượng.
4. Uống vitamin D
Kết quả nghiên cứu gần đây nhất thể hiện, vitamin D có tác dụng phòng chống ung thư tuyến sữa. Nghiên cứu cho thấy: phụ nữ mỗi ngày uống 200UI vitamin D, nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến sữa giảm 30%.
Phụ nữ chưa tới 50 tuổi mỗi ngày ít nhất uống 200UI vitamin D, phụ nữ trên 50 tuổi uống 400-600UI vitamin D.
5. Nên tắm nắng nhiều
Liên quan với việc uống vitamin D, tắm nắng nhiều cũng có thể giảm thấp được tỉ lệ phát bệnh ung thư tuyến sữa, bởi vì da có khả năng tổng hợp vitamin D từ ánh nắng.
Các chuyên gia Mỹ nói rằng, đối với hầu hết mọi người, mỗi ngày “tắm” nắng từ 10 -15 phút là đủ để duy trì vitamin D cần thiết cho cơ thể . Nhưng, cũng có chuyên gia chỉ ra, nếu da “ tắm” quá nhiều ánh nắng mặt trời thì sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư da, vì vậy, “tắm” nắng cũng nên có hạn độ.

1. Thường xuyên vận động
Hiệp hội Ung thư quốc gia Mỹ khẳng định: vận động có thể làm cho tỉ lệ phát sinh ung thư vú giảm 60% ở phụ nữ trong giai đoạn mãn kinh.
Một nghiên cứu tại Na Uy sau khi tiến hành điều tra 25.624 phụ nữ phát hiện, những phụ nữ vận động ít nhất 4 tiếng/tuần thì nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến sữa giảm xuống 37%.
2. Duy trì thể trọng hợp lý
Một nghiên cứu của trường đại học Harvard chứng minh, nữ giới sau 18 tuổi có xu hướng tăng cân nhanh. Nếu tăng cân ở giai đoạn mãn kinh nguy cơ mắc bệnh ung thư vú cao gấp đôi so với những phụ nữ duy trì được thể trọng chuẩn.
3. Không uống rượu
Các chuyên gia Mỹ cho rằng, nếu mỗi ngày uống rượu 1 lần, nguy cơ mắc chứng ung thư tuyến sữa sẽ tăng 11%, nếu uống 2 lần/ngày thì nguy cơ tăng 24%. Nếu mỗi ngày uống nhiều hơn 2 lần thì nguy cơ tăng 40%. Vì vậy, khuyến cáo những người phụ nữ thích uống rượu, tốt nhất mỗi tuần không nên uống quá 3 lần và phải khống chế định mức, định lượng.
4. Uống vitamin D
Kết quả nghiên cứu gần đây nhất thể hiện, vitamin D có tác dụng phòng chống ung thư tuyến sữa. Nghiên cứu cho thấy: phụ nữ mỗi ngày uống 200UI vitamin D, nguy cơ mắc bệnh ung thư tuyến sữa giảm 30%.
Phụ nữ chưa tới 50 tuổi mỗi ngày ít nhất uống 200UI vitamin D, phụ nữ trên 50 tuổi uống 400-600UI vitamin D.
5. Nên tắm nắng nhiều
Liên quan với việc uống vitamin D, tắm nắng nhiều cũng có thể giảm thấp được tỉ lệ phát bệnh ung thư tuyến sữa, bởi vì da có khả năng tổng hợp vitamin D từ ánh nắng.
Các chuyên gia Mỹ nói rằng, đối với hầu hết mọi người, mỗi ngày “tắm” nắng từ 10 -15 phút là đủ để duy trì vitamin D cần thiết cho cơ thể . Nhưng, cũng có chuyên gia chỉ ra, nếu da “ tắm” quá nhiều ánh nắng mặt trời thì sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư da, vì vậy, “tắm” nắng cũng nên có hạn độ.
Dương Hằng
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
“Mẹo” ăn uống trong điều trị ung thư
Vượt qua quá trình điều trị bệnh ung thư chưa bao giờ là điều dễ dàng, đặc biệt là khi cơ thể đang chống chọi với những ảnh hưởng từ việc hóa trị và xạ trị. Điều này có thể làm bạn kiệt sức, mệt mỏi và không muốn ăn.
Để có đủ sức khỏe “theo đuổi” đến cùng quá trình điều trị, việc xây dựng chế độ ăn uống với nhiều thực phẩm có ích cho cơ thể là vấn đề quan trọng cần lưu tâm. Vài cách sau đây sẽ giúp bạn ăn uống dễ dàng hơn dù đang gặp phải những triệu chứng thật khó chịu.
1. Chán ăn :
Khi có cảm giác không muốn ăn, bạn rất dễ bỏ bữa. Để cơ thể vẫn có đủ dưỡng chất cần thiết, hãy thử những bí quyết sau :
- Ăn khi đói dù không ăn được nhiều.
- Lập thời gian biểu cho việc ăn uống và mỗi ngày, luôn ăn đúng giờ qui định.
- Ăn từng bữa nhỏ.
- Chuẩn bị sẵn thức ăn và đồ ăn vặt như trứng luộc, đậu… để bạn có thứ để “nhâm nhi” với đầy đủ dưỡng chất khi không cảm thấy đói hay không thể nấu ngay đồ ăn được.
2. Cảm thấy mệt mỏi :
Quá trình điều trị làm mất sức khiến bạn không muốn làm gì, kể cả việc nấu ăn hay thậm chí là ăn thứ gì đó. Trong trường hợp này bạn nên :
- Mua những phần thức ăn sẵn phù hợp (những loại thức ăn giàu dinh dưỡng dành cho người bệnh).
- Chọn thức ăn đặc, giàu calo.
- Có thể liên hệ nơi bán thức ăn có dịch vụ giao tận nhà để đặt hàng những món ăn cần thiết. Đây cũng là cách để bạn không phải bận tâm về chuyện nấu nướng, dành thời gian nhiều hơn cho việc điều trị.
3. Buồn nôn và ói :
Sẽ có lúc bạn cảm thấy khỏe và thèm ăn nhưng có khi nghe mùi hoặc nhìn thấy món ăn là cơn buồn nôn lại xuất hiện. Những cách sau đây sẽ giúp bạn vượt qua vấn đề này :
- Uống thật nhiều nước (đôi khi, nguồn gốc của việc buồn nôn là do quá trình điều trị làm cơ thể mất nước).
- Có thể uống nước mát (nước mát sẽ giúp làm dịu bao tử).
- Cho thêm gừng vào đồ ăn hoặc đồ uống vì gừng luôn là vị thuốc chữa chứng buồn nôn rất hiệu quả.
- Ăn thật chậm và không nên ăn tiếp khi đã có cảm giác no bụng.
4. Đau, khô miệng và cổ họng :
Việc xạ trị ở khu vực đầu và cổ có thể làm thay đổi lượng nước bọt tiết ra trong miệng. Điều này làm miệng và cổ họng hay bị khô, đau, rát. Để đối phó với tình trạng này, hãy áp dụng những cách sau :
- Sử dụng nước súc miệng mỗi ngày một lần để làm sạch miệng, loại trừ vi khuẩn gây đau họng.
- Uống nhiều nước để tránh mất nước.
- Ăn những bữa nhỏ và thường xuyên. Điều này buộc bạn phải nhai và hoạt động cơ miệng nhiều, giúp tiết ra nước bọt để rửa trôi vi khuẩn trong miệng.
- Chọn những thực phẩm, món ăn dễ nuốt như kem hoặc súp. Nếu thấy khó nuốt, thay vì dùng những món làm từ sữa, hãy dùng loại sữa ít béo, chẳng hạn đổi món kem thành món sữa chua ít béo sẽ giúp bạn dễ ăn hơn.
- Dùng bánh mì chung với dầu oliu hoặc thêm bơ, nước sốt vào món ăn cho dễ nuốt.
5. Thay đổi khẩu vị :
Khi phải điều trị bằng phương pháp hóa trị, cơ quan vị giác sẽ bị ảnh hưởng khiến bạn không cảm thấy ngon khi nếm món ăn. Nếu điều này xảy ra bạn cần:
- Cho thêm nước chấm hoặc nước sốt vào món thịt, cá.
- Để giảm bớt vị đắng chát trong miệng, hãy chọn các món có thịt nạc như thịt gà, cũng có thể dùng thêm đậu hũ, trứng hoặc bơ đậu phộng.
- Sử dụng đồ dùng bằng nhựa thay vì bằng kim loại.
- Điều quan trọng là bạn phải lắng nghe chính cơ thể mình và chỉ nên lựa chọn những món ăn mà bạn thấy dễ chịu khi ngửi hoặc nhìn thấy, đừng cố gắng ăn những thứ không thích.
- Tránh những món để lại mùi vị đậm (như các món cá).
- Làm dịu bớt những món có mùi mạnh như các món nhiều gia vị, quá ngọt hay mặn.
6. Những vấn đề về đường ruột :
Dù là tiêu chảy hay táo bón thì những rối loạn của hệ thống tiêu hóa là vấn đề phổ biến khi điều trị ung thư. Những điều bạn nên làm trong trường hợp này là :
- Uống thật nhiều nước, gồm nước lọc và nước trái cây để giúp rửa sạch ruột.
- Tránh những thức uống có chất caffeine vì chúng khử nước nên sẽ khiến cho “rắc rối” ở ruột trở nên trầm trọng hơn.
- Không dùng các món có nhiều chất béo. Thay vào đó nên ăn nhiều rau xanh và trái cây. Chúng có nhiều chất xơ nên có lợi cho sự hoạt động của hệ tiêu hóa.
- Thay đổi lượng chất xơ trong khẩu phần. Nếu đang bị táo bón, cần ăn nhiều chất xơ hơn, ngược lại nếu đang tiêu chảy, cần hạn chế lượng chất xơ.
- Gọt vỏ và bỏ hạt của các loại trái cây trước khi ăn để cơ thể dễ tiêu hóa hơn.
- Tránh những thứ có nhiều hơi gas như kẹo cao su, đồ uống có gas, caffeine…
Để có đủ sức khỏe “theo đuổi” đến cùng quá trình điều trị, việc xây dựng chế độ ăn uống với nhiều thực phẩm có ích cho cơ thể là vấn đề quan trọng cần lưu tâm. Vài cách sau đây sẽ giúp bạn ăn uống dễ dàng hơn dù đang gặp phải những triệu chứng thật khó chịu.
1. Chán ăn :
Khi có cảm giác không muốn ăn, bạn rất dễ bỏ bữa. Để cơ thể vẫn có đủ dưỡng chất cần thiết, hãy thử những bí quyết sau :
- Ăn khi đói dù không ăn được nhiều.
- Lập thời gian biểu cho việc ăn uống và mỗi ngày, luôn ăn đúng giờ qui định.
- Ăn từng bữa nhỏ.
- Chuẩn bị sẵn thức ăn và đồ ăn vặt như trứng luộc, đậu… để bạn có thứ để “nhâm nhi” với đầy đủ dưỡng chất khi không cảm thấy đói hay không thể nấu ngay đồ ăn được.
2. Cảm thấy mệt mỏi :
Quá trình điều trị làm mất sức khiến bạn không muốn làm gì, kể cả việc nấu ăn hay thậm chí là ăn thứ gì đó. Trong trường hợp này bạn nên :
- Mua những phần thức ăn sẵn phù hợp (những loại thức ăn giàu dinh dưỡng dành cho người bệnh).
- Chọn thức ăn đặc, giàu calo.
- Có thể liên hệ nơi bán thức ăn có dịch vụ giao tận nhà để đặt hàng những món ăn cần thiết. Đây cũng là cách để bạn không phải bận tâm về chuyện nấu nướng, dành thời gian nhiều hơn cho việc điều trị.
3. Buồn nôn và ói :
Sẽ có lúc bạn cảm thấy khỏe và thèm ăn nhưng có khi nghe mùi hoặc nhìn thấy món ăn là cơn buồn nôn lại xuất hiện. Những cách sau đây sẽ giúp bạn vượt qua vấn đề này :
- Uống thật nhiều nước (đôi khi, nguồn gốc của việc buồn nôn là do quá trình điều trị làm cơ thể mất nước).
- Có thể uống nước mát (nước mát sẽ giúp làm dịu bao tử).
- Cho thêm gừng vào đồ ăn hoặc đồ uống vì gừng luôn là vị thuốc chữa chứng buồn nôn rất hiệu quả.
- Ăn thật chậm và không nên ăn tiếp khi đã có cảm giác no bụng.
4. Đau, khô miệng và cổ họng :
Việc xạ trị ở khu vực đầu và cổ có thể làm thay đổi lượng nước bọt tiết ra trong miệng. Điều này làm miệng và cổ họng hay bị khô, đau, rát. Để đối phó với tình trạng này, hãy áp dụng những cách sau :
- Sử dụng nước súc miệng mỗi ngày một lần để làm sạch miệng, loại trừ vi khuẩn gây đau họng.
- Uống nhiều nước để tránh mất nước.
- Ăn những bữa nhỏ và thường xuyên. Điều này buộc bạn phải nhai và hoạt động cơ miệng nhiều, giúp tiết ra nước bọt để rửa trôi vi khuẩn trong miệng.
- Chọn những thực phẩm, món ăn dễ nuốt như kem hoặc súp. Nếu thấy khó nuốt, thay vì dùng những món làm từ sữa, hãy dùng loại sữa ít béo, chẳng hạn đổi món kem thành món sữa chua ít béo sẽ giúp bạn dễ ăn hơn.
- Dùng bánh mì chung với dầu oliu hoặc thêm bơ, nước sốt vào món ăn cho dễ nuốt.
5. Thay đổi khẩu vị :
Khi phải điều trị bằng phương pháp hóa trị, cơ quan vị giác sẽ bị ảnh hưởng khiến bạn không cảm thấy ngon khi nếm món ăn. Nếu điều này xảy ra bạn cần:
- Cho thêm nước chấm hoặc nước sốt vào món thịt, cá.
- Để giảm bớt vị đắng chát trong miệng, hãy chọn các món có thịt nạc như thịt gà, cũng có thể dùng thêm đậu hũ, trứng hoặc bơ đậu phộng.
- Sử dụng đồ dùng bằng nhựa thay vì bằng kim loại.
- Điều quan trọng là bạn phải lắng nghe chính cơ thể mình và chỉ nên lựa chọn những món ăn mà bạn thấy dễ chịu khi ngửi hoặc nhìn thấy, đừng cố gắng ăn những thứ không thích.
- Tránh những món để lại mùi vị đậm (như các món cá).
- Làm dịu bớt những món có mùi mạnh như các món nhiều gia vị, quá ngọt hay mặn.
6. Những vấn đề về đường ruột :
Dù là tiêu chảy hay táo bón thì những rối loạn của hệ thống tiêu hóa là vấn đề phổ biến khi điều trị ung thư. Những điều bạn nên làm trong trường hợp này là :
- Uống thật nhiều nước, gồm nước lọc và nước trái cây để giúp rửa sạch ruột.
- Tránh những thức uống có chất caffeine vì chúng khử nước nên sẽ khiến cho “rắc rối” ở ruột trở nên trầm trọng hơn.
- Không dùng các món có nhiều chất béo. Thay vào đó nên ăn nhiều rau xanh và trái cây. Chúng có nhiều chất xơ nên có lợi cho sự hoạt động của hệ tiêu hóa.
- Thay đổi lượng chất xơ trong khẩu phần. Nếu đang bị táo bón, cần ăn nhiều chất xơ hơn, ngược lại nếu đang tiêu chảy, cần hạn chế lượng chất xơ.
- Gọt vỏ và bỏ hạt của các loại trái cây trước khi ăn để cơ thể dễ tiêu hóa hơn.
- Tránh những thứ có nhiều hơi gas như kẹo cao su, đồ uống có gas, caffeine…
Hồng Xuân
Theo Phụ nữ Online
Theo Phụ nữ Online
Đậu bắp - bạn đồng hành của sức khỏe
Thuộc loại thực phẩm giàu protein, nhiều dinh dưỡng, không có cholesterol, đậu bắp luôn có mặt trong thực đơn giảm béo, giúp cơ thể bài trừ độc tố, bảo vệ sức khỏe, làm đẹp da.
Các thành phần dinh dưỡng trong đậu bắp đều cao hơn các loại rau quả củ nói chung, đặc biệt là các vi chất như: canxi, kali, vitamin B6, ma giê, folate và axit alpha - linolenic. Những vitamin này sẽ giúp “nâng cấp” sức khỏe khá toàn diện.
Ngay đến cành non của đậu bắp cũng có hương thơm và mùi vị đặc trưng, luộc ăn giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan.
Ăn đậu bắp thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì và cả ung thư.
Đậu bắp rất dễ ăn, có thể luộc, xào, nướng hoặc sấy khô đều được. Uống nước đậu bắp luộc hàng ngày, trong nhiều tháng còn giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường, có làn da đẹp, đặc biệt là rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh.
Các thành phần dinh dưỡng trong đậu bắp đều cao hơn các loại rau quả củ nói chung, đặc biệt là các vi chất như: canxi, kali, vitamin B6, ma giê, folate và axit alpha - linolenic. Những vitamin này sẽ giúp “nâng cấp” sức khỏe khá toàn diện.Ngay đến cành non của đậu bắp cũng có hương thơm và mùi vị đặc trưng, luộc ăn giúp tiêu hóa tốt, chữa trị loét dạ dày, bảo vệ gan.
Ăn đậu bắp thường xuyên sẽ giúp cơ thể giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch, tiểu đường, béo phì và cả ung thư.
Đậu bắp rất dễ ăn, có thể luộc, xào, nướng hoặc sấy khô đều được. Uống nước đậu bắp luộc hàng ngày, trong nhiều tháng còn giúp ngăn ngừa bệnh tiểu đường, có làn da đẹp, đặc biệt là rất tốt cho phụ nữ sau khi sinh.
Từ Linh Hương
Theo Phụ nữ Online
Theo Phụ nữ Online
Ung thư cổ tử cung : 10 thắc mắc thường gặp
Theo một cuộc thăm dò mới đây được tiến hành tại Pháp, chúng ta không khỏi giật mình vì sự thiếu hiểu biết của nhiều người đối với bệnh ung thư cổ tử cung.
Dưới đây là trả lời những thắc mắc thường gặp về bệnh ung thư cổ tử cung :
1. Nguyên nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung là do quá trình viêm nhiễm kéo dài (khoảng 20 năm) các loại vi rút nhóm papilloma, còn được gọi là HPV (Human Papilloma vi rút). Loại vi rút này tập trung nhiều nhất vào những năm đầu sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên.
Những loại vi rút này sẽ bị “đánh bật” khỏi cơ thể trong vòng 12 - 24 tháng. Nhưng một số phụ nữ không thể loại bỏ được chúng và đây là nhóm người có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung về sau này.
Vi rút HPV lây lan qua đường tình dục. Không giống các bệnh lây qua truyền qua con đường này, bao cao su không thể bảo vệ nam giới hoàn toàn vì chỉ cần có sự tiếp xúc da với da ở khu vực này là đủ để nhiễm vi rút HPV.
Loại vi rút này có thể truyền từ nữ sang nam và ngược lại.
2. Tác hại của loại vi rút này đối với sức khỏe sau này? Liệu có thể chữa khỏi được hoàn toàn?
Những người mang trong mình vi rút HPV đều có thể phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe trong một thời gian ngắn hay lâu dài.
Trong một thời gian ngắn, loại vi rút này có thể gây ra những vết loét - yếu tố gây ra bệnh ung thư cổ tử cung sau này. Những vết thương này có thể được điều trị rất đơn giản: cắt một phần cổ tử cung. Tuy phương pháp điều trị này đơn giản nhưng nó có thể gây ra những biến chứng đối với phụ nữ sau này, khi mang thai: sảy thai hoặc đẻ non.
Sau khi cắt bỏ một phần cổ tử cung, vi rút HPV vẫn có thể quay trở lại và gây ra bệnh ung thư cổ tử cung sau nhiều năm. Đi khám bác sỹ thường xuyên sau phẫu thuật là điều bắt buộc phải làm.
3. Những tác động bên ngoài nào có thể là nguyên nhân gây nên bệnh ung thư cổ tử cung?
Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây nên căn bệnh này.
Ngoài ra những người mang căn bệnh thế kỷ AIDS hoặc dùng thuốc dành cho những người được ghép tủy.
4. Bệnh ung thử cổ tử cung có di truyền?
Không. Đây không phải loại bệnh di truyền.
5. Triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu giúp phát hiện bệnh ung thư cổ tử cung?
Khi có thể chẩn đoán bệnh ung thư cổ tử cung qua cảm quan thì những dấu hiệu lâm sàng rất đa dạng, tùy vào mức độ bệnh, bản chất của bệnh và giai đoạn phát triển của những khối u ác tính.
Những dấu hiệu sớm cho thấy cơ thể mắc căn bệnh này hầu như không có, đặc biệt là giai đoạn đầu (trước khi xuất hiện những khối u). Đôi khi dấu hiệu chỉ là những cơn đau xuất hiện khi quan hệ tình dục hoặc ngay cả lúc không quan hệ.
Khi đã nhìn thấy các khối u thì lúc này sức khỏe của người bệnh đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu khối u lớn, nó sẽ chèn ép các vùng xung quanh và gây ra hiện tượng tiểu buốt, hoặc đi tiểu khó khăn, táo bón...
6. Tuổi nào hay nhiễm vi rút này?
Vi rút HPV xuất hiện nhiều vào những lần quan hệ tình dục đầu tiên. Và theo điều tra, ở độ tuổi từ 20 - 25, khoảng 1/3 các cô gái bị nhiễm loại vi rút này nhưng tỉ lệ tồn tại của loại vi rút này sau 20 - 30 năm chỉ còn 1/10.
7. Nhiễm HPV lâu dài sẽ dễ tử vong?
Đúng. 1/3 phụ nữ mắc căn bệnh này chết vì nó.
Tại Pháp, khoảng 3.000 - 4.000 phụ nữ mắc bệnh ung thư cổ tử cung được phát hiện hàng năm.
8. Phương pháp nào giúp phát hiện ung thư cổ tử cung chính xác nhất?
Để phát hiện bệnh ung thư cổ tử cung, các bác sỹ sẽ cho bệnh nhân đi làm xét nghiệm phụ khoa. Họ sẽ lấy những tế bào ở cổ tử cung của bệnh nhân để làm sinh thiết. Phương pháp này cho phép phát hiện những tế bào bất thường trước khi căn bệnh ung thư đang trong giai đoạn đầu.
Hãy đi khám định kỳ từ năm 25 tuổi (3 năm/lần) để sớm phát hiện căn bệnh này.
9. Tuổi nào nên tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung? Vắc xin bảo vệ được trong bao lâu? Chúng ta có thể tiêm vắc xin này khi đã từng quan hệ tình dục?
Theo thống kê ở Pháp, trung bình các thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục lần đầu tiên vào năm 17 tuổi. Các bác sỹ khuyên họ nên tiêm loại vắc xin này vào năm 14 tuổi, trước khi quan hệ tình dục lần đầu.
10. Có loại vi rút nào khác gây nên bệnh ung thư cổ tử cung?
Vi rút thuộc họ HPV là nhóm duy nhất gây nên bệnh ung thư cổ tử cung: có khoảng 15 loại vi rút HPV.
Dưới đây là trả lời những thắc mắc thường gặp về bệnh ung thư cổ tử cung :
1. Nguyên nhân gây bệnh ung thư cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung là do quá trình viêm nhiễm kéo dài (khoảng 20 năm) các loại vi rút nhóm papilloma, còn được gọi là HPV (Human Papilloma vi rút). Loại vi rút này tập trung nhiều nhất vào những năm đầu sau khi quan hệ tình dục lần đầu tiên.
Những loại vi rút này sẽ bị “đánh bật” khỏi cơ thể trong vòng 12 - 24 tháng. Nhưng một số phụ nữ không thể loại bỏ được chúng và đây là nhóm người có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung về sau này.
Vi rút HPV lây lan qua đường tình dục. Không giống các bệnh lây qua truyền qua con đường này, bao cao su không thể bảo vệ nam giới hoàn toàn vì chỉ cần có sự tiếp xúc da với da ở khu vực này là đủ để nhiễm vi rút HPV.
Loại vi rút này có thể truyền từ nữ sang nam và ngược lại.
2. Tác hại của loại vi rút này đối với sức khỏe sau này? Liệu có thể chữa khỏi được hoàn toàn?
Những người mang trong mình vi rút HPV đều có thể phải gánh chịu những hậu quả nghiêm trọng đối với sức khỏe trong một thời gian ngắn hay lâu dài.
Trong một thời gian ngắn, loại vi rút này có thể gây ra những vết loét - yếu tố gây ra bệnh ung thư cổ tử cung sau này. Những vết thương này có thể được điều trị rất đơn giản: cắt một phần cổ tử cung. Tuy phương pháp điều trị này đơn giản nhưng nó có thể gây ra những biến chứng đối với phụ nữ sau này, khi mang thai: sảy thai hoặc đẻ non.
Sau khi cắt bỏ một phần cổ tử cung, vi rút HPV vẫn có thể quay trở lại và gây ra bệnh ung thư cổ tử cung sau nhiều năm. Đi khám bác sỹ thường xuyên sau phẫu thuật là điều bắt buộc phải làm.
3. Những tác động bên ngoài nào có thể là nguyên nhân gây nên bệnh ung thư cổ tử cung?
Thuốc lá là nguyên nhân hàng đầu gây nên căn bệnh này.
Ngoài ra những người mang căn bệnh thế kỷ AIDS hoặc dùng thuốc dành cho những người được ghép tủy.
4. Bệnh ung thử cổ tử cung có di truyền?
Không. Đây không phải loại bệnh di truyền.
5. Triệu chứng lâm sàng và dấu hiệu giúp phát hiện bệnh ung thư cổ tử cung?
Khi có thể chẩn đoán bệnh ung thư cổ tử cung qua cảm quan thì những dấu hiệu lâm sàng rất đa dạng, tùy vào mức độ bệnh, bản chất của bệnh và giai đoạn phát triển của những khối u ác tính.
Những dấu hiệu sớm cho thấy cơ thể mắc căn bệnh này hầu như không có, đặc biệt là giai đoạn đầu (trước khi xuất hiện những khối u). Đôi khi dấu hiệu chỉ là những cơn đau xuất hiện khi quan hệ tình dục hoặc ngay cả lúc không quan hệ.
Khi đã nhìn thấy các khối u thì lúc này sức khỏe của người bệnh đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Nếu khối u lớn, nó sẽ chèn ép các vùng xung quanh và gây ra hiện tượng tiểu buốt, hoặc đi tiểu khó khăn, táo bón...
6. Tuổi nào hay nhiễm vi rút này?
Vi rút HPV xuất hiện nhiều vào những lần quan hệ tình dục đầu tiên. Và theo điều tra, ở độ tuổi từ 20 - 25, khoảng 1/3 các cô gái bị nhiễm loại vi rút này nhưng tỉ lệ tồn tại của loại vi rút này sau 20 - 30 năm chỉ còn 1/10.
7. Nhiễm HPV lâu dài sẽ dễ tử vong?
Đúng. 1/3 phụ nữ mắc căn bệnh này chết vì nó.
Tại Pháp, khoảng 3.000 - 4.000 phụ nữ mắc bệnh ung thư cổ tử cung được phát hiện hàng năm.
8. Phương pháp nào giúp phát hiện ung thư cổ tử cung chính xác nhất?
Để phát hiện bệnh ung thư cổ tử cung, các bác sỹ sẽ cho bệnh nhân đi làm xét nghiệm phụ khoa. Họ sẽ lấy những tế bào ở cổ tử cung của bệnh nhân để làm sinh thiết. Phương pháp này cho phép phát hiện những tế bào bất thường trước khi căn bệnh ung thư đang trong giai đoạn đầu.
Hãy đi khám định kỳ từ năm 25 tuổi (3 năm/lần) để sớm phát hiện căn bệnh này.
9. Tuổi nào nên tiêm vắc xin phòng ung thư cổ tử cung? Vắc xin bảo vệ được trong bao lâu? Chúng ta có thể tiêm vắc xin này khi đã từng quan hệ tình dục?
Theo thống kê ở Pháp, trung bình các thanh thiếu niên bắt đầu quan hệ tình dục lần đầu tiên vào năm 17 tuổi. Các bác sỹ khuyên họ nên tiêm loại vắc xin này vào năm 14 tuổi, trước khi quan hệ tình dục lần đầu.
10. Có loại vi rút nào khác gây nên bệnh ung thư cổ tử cung?
Vi rút thuộc họ HPV là nhóm duy nhất gây nên bệnh ung thư cổ tử cung: có khoảng 15 loại vi rút HPV.
Mai Dung
Theo Dân Trí
Theo Dân Trí
Ung thư cổ tử cung
Những căn bệnh ở cổ tử cung có thể phát triển thành ung thư. Điều này xảy ra khi các thế bào phát triển ngoài phạm vi bình thường và không thực hiện đúng chức năng của nó trong thời gian dài.
Chỉ có tế bào ung thư mới lan truyền đi. Chúng đi khắp cơ thể, đến máu và dịch bạch huyết (chất dịch vàng bắt nguồn từ dịch mô trong cơ thể). Chúng cũng lan trực tiếp đến các mô gần cổ tử cung. Nếu tế bào ung thư được phát hiện sớm thì việc điều trị sẽ thành công.

1. Ung thư cổ tử cung phổ biến như thế nào?
Ở Mỹ, ung thư cổ tử cung chiếm gần 2.4% phụ nữ. Mỗi năm có khoảng 9.700 trường hợp mới mắc bệnh ung thư cổ tử cung và có khoảng 3.700 người chết vì căn bệnh này.
2. Những ai có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung?
Phụ nữ ở độ tuổi từ 35–50 là những người có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung vì ở giai đoạn này, căn bệnh đã phát triển sau khi những tế bào bất thường xuất hiện trong vài năm. Những phụ nữ bị nhiễm trùng đường sinh dục, bắt đầu quan hệ trước 18 tuổi hay quan hệ với nhiều bạn tình là những người có nguy cơ bị mắc căn bệnh ung thư này.
3. Những dấu hiệu của căn bệnh ung thư cổ tử cung là gì?
Không may thay, chúng tôi vẫn chưa tìm ra được những dấu hiệu giúp bạn nhận biết được căn bệnh này. Tuy nhiên, những dấu hiệu sau có thể giúp bạn ngăn chặn được những dấu hiệu có khả năng xảy ra bệnh :
Những dấu hiệu này cũng đồng nghĩa với việc bạn bị chứng loạn sản. Đây là một loại triệu chứng rối loạn cổ tử cung xuất hiện khi có sự thay đổi những tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Những tế bào bình thường được thay bằng những tế bào bất thường. Những tế bào có biểu hiện loạn sản không phải là tế bào ung thư. Tuy nhiên, chúng sẽ trở thành tế bào ung thư nếu không được điều trị kịp thời.
5. Ung thư cổ tử cung được chẩn đoán như thế nào?
Ung thư cổ tử cung có thể được chẩn đoán thông qua cuộc xét nghiệm chất nhờn cổ tử cung. Dùng cây đè lưỡi bằng gỗ, cọ, hay cây bông gòn, bác sĩ sẽ nhẹ nhàng quệt toàn bộ bề mặt của tử cung để gom các tế bào và lấy một mẫu tế bào trong cổ tử cung bằng cách đưa cọ vào. Những tế bào này được gởi đến phòng xét nghiệm phân tích bằng kính hiển vi. Kết quả âm tính có nghĩa cổ tử cung của bạn bình thường. Kết quả dương tính không có nghĩa bạn bị ung thư hay loạn sản.
Tuy nhiên, bạn cần thực hiện nhiều cuộc xét nghiệm khác nữa. Cuộc kiểm tra tử cung là một thủ tục lấy một mẩu mô nhỏ của cổ tử cung và mang đi nghiên cứu. Cuộc xét nghiệm này cần được thực hiện thường xuyên ở bệnh viện hay phòng mạch của bác sĩ. Bạn có thể cảm thấy khó chịu hay hơi đau. Cuộc kiểm tra này sẽ giúp bạn xác định được liệu các tế bào của mình có trở thành tế bào ung thư không và nó có lan nhanh sang tử cung không.
6. Ung thư cổ tử cung nghiêm trọng như thế nào?
Ung thư cổ tử cung trở nên nghiêm trọng nếu nó lan sang tử cung. Ung thư cổ tử cung làm khoảng 3% những người phụ nữ Hoa Kỳ chết mỗi năm.
7. Ung thư cổ tử cung được điều trị như thế nào?
Phương pháp điều trị tùy thuộc vào kích thước khối u và sự lan truyền của nó. Dưới đây là vào liệu pháp chữa trị :
Chỉ có tế bào ung thư mới lan truyền đi. Chúng đi khắp cơ thể, đến máu và dịch bạch huyết (chất dịch vàng bắt nguồn từ dịch mô trong cơ thể). Chúng cũng lan trực tiếp đến các mô gần cổ tử cung. Nếu tế bào ung thư được phát hiện sớm thì việc điều trị sẽ thành công.

1. Ung thư cổ tử cung phổ biến như thế nào?
Ở Mỹ, ung thư cổ tử cung chiếm gần 2.4% phụ nữ. Mỗi năm có khoảng 9.700 trường hợp mới mắc bệnh ung thư cổ tử cung và có khoảng 3.700 người chết vì căn bệnh này.
2. Những ai có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung?
Phụ nữ ở độ tuổi từ 35–50 là những người có nguy cơ mắc bệnh ung thư cổ tử cung vì ở giai đoạn này, căn bệnh đã phát triển sau khi những tế bào bất thường xuất hiện trong vài năm. Những phụ nữ bị nhiễm trùng đường sinh dục, bắt đầu quan hệ trước 18 tuổi hay quan hệ với nhiều bạn tình là những người có nguy cơ bị mắc căn bệnh ung thư này.
3. Những dấu hiệu của căn bệnh ung thư cổ tử cung là gì?
Không may thay, chúng tôi vẫn chưa tìm ra được những dấu hiệu giúp bạn nhận biết được căn bệnh này. Tuy nhiên, những dấu hiệu sau có thể giúp bạn ngăn chặn được những dấu hiệu có khả năng xảy ra bệnh :
- Ra máu bất thường, nổi đốm hay chảy mủ âm đạo sau khi quan hệ, giữa chu kỳ hay sau khi mãn kinh.
- Ra máu hay chất nhầy từ âm đạo. Nó có thể có mùi nặng hay mùi hôi.
- Với ung thư giai đoạn cuối, người bệnh có thể bị đau, gặp vấn đề về tử cung và bị sưng chân.
Những dấu hiệu này cũng đồng nghĩa với việc bạn bị chứng loạn sản. Đây là một loại triệu chứng rối loạn cổ tử cung xuất hiện khi có sự thay đổi những tế bào trên bề mặt cổ tử cung. Những tế bào bình thường được thay bằng những tế bào bất thường. Những tế bào có biểu hiện loạn sản không phải là tế bào ung thư. Tuy nhiên, chúng sẽ trở thành tế bào ung thư nếu không được điều trị kịp thời.
5. Ung thư cổ tử cung được chẩn đoán như thế nào?
Ung thư cổ tử cung có thể được chẩn đoán thông qua cuộc xét nghiệm chất nhờn cổ tử cung. Dùng cây đè lưỡi bằng gỗ, cọ, hay cây bông gòn, bác sĩ sẽ nhẹ nhàng quệt toàn bộ bề mặt của tử cung để gom các tế bào và lấy một mẫu tế bào trong cổ tử cung bằng cách đưa cọ vào. Những tế bào này được gởi đến phòng xét nghiệm phân tích bằng kính hiển vi. Kết quả âm tính có nghĩa cổ tử cung của bạn bình thường. Kết quả dương tính không có nghĩa bạn bị ung thư hay loạn sản.
Tuy nhiên, bạn cần thực hiện nhiều cuộc xét nghiệm khác nữa. Cuộc kiểm tra tử cung là một thủ tục lấy một mẩu mô nhỏ của cổ tử cung và mang đi nghiên cứu. Cuộc xét nghiệm này cần được thực hiện thường xuyên ở bệnh viện hay phòng mạch của bác sĩ. Bạn có thể cảm thấy khó chịu hay hơi đau. Cuộc kiểm tra này sẽ giúp bạn xác định được liệu các tế bào của mình có trở thành tế bào ung thư không và nó có lan nhanh sang tử cung không.
6. Ung thư cổ tử cung nghiêm trọng như thế nào?
Ung thư cổ tử cung trở nên nghiêm trọng nếu nó lan sang tử cung. Ung thư cổ tử cung làm khoảng 3% những người phụ nữ Hoa Kỳ chết mỗi năm.
7. Ung thư cổ tử cung được điều trị như thế nào?
Phương pháp điều trị tùy thuộc vào kích thước khối u và sự lan truyền của nó. Dưới đây là vào liệu pháp chữa trị :
- Sự giãn nở và việc nạo thai có thể làm lớp tử cung bị tổn thương. Bạn có thể lấy mẫu mô này để kiểm tra xem tế bào ung thư đã chuyển sang tử cung của mình chưa.
- Cắt bỏ tử cung cơ bản là thủ tục phẫu thuật cắt bỏ tử cung (bao gồm cổ tử cung), vùng trên của âm đạo, những mô xung quanh, mấu bạch huyết và ống dẫn trứng. Với những phụ nữ trẻ, buồng trứng hơi nghiêng về bên trái.
- Xạ trị bao gồm xạ trị bằng máy và xạ trị bằng những ống phóng xạ ở tử cung hay phần trên âm đạo. Những ống xạ này sẽ ra khỏi tử cung vài ngày trong khi bạn vẫn còn nằm viện. Tác dụng phụ bao gồm: tiêu chảy, xuất huyết ruột và mệt mỏi.
Theo Sức khỏe
Ung thư gan - Có thể phòng ngừa
Ung thư gan là một căn bệnh ác tính khá phổ biến trên toàn thế giới, đặc biệt tại châu Á, nơi tập trung 75% số người nhiễm bệnh trên toàn thế giới.
Tại Việt Nam, ung thư gan đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư, do tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B, và C khá cao, cũng như thói quen ăn uống không hợp lý.
Điều nguy hiểm là ung thư gan thường diễn biến thầm lặng, dẫn đến tử vong rất nhanh, trung bình từ 1 - 6 tháng kể từ khi phát bệnh. Điều này chứng tỏ sự cần thiết của việc tự bảo vệ bản thân cũng như thường xuyên kiểm tra sức khỏe nhằm phát hiện bệnh sớm là vô cùng quan trọng.
Con đường dẫn đến ung thư gan
Hiện tại, nguyên nhân dẫn đến ung thư gan vẫn còn là một câu hỏi đau đầu cho nhiều nhà nghiên cứu, tuy nhiên một số yếu tố sau đây có liên quan đến quá trình phát triển của ung thư gan như:
* Các bệnh viêm gan do virus : hơn 70% bệnh nhân mắc bệnh ung thư gan có liên quan đến việc nhiễm virus viêm gan B và C. Bệnh chủ yếu lây lan qua đường máu, quan hệ tình dục, cũng như mẹ truyền sang con. Điều đáng quan ngại là tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B tại Việt Nam khá cao, và hiểu biết về bệnh còn thấp.
* Xơ gan : do các tế bào gan lành bị mô xô thay thế. Rượu, một số hóa chất (aflatoxin: một chất độc có trong các loại nấm, và ngũ cốc bị mốc), viêm gan mãn tính do virus viêm gan B hoặc C, là yếu tố có thể làm tế bào gan lành bị xơ hóa dẫn đến xơ gan. Tuy nhiên, chỉ một tỷ lệ nhỏ xơ gan chuyển thành ung thư gan.
Dấu hiệu bệnh
Ung thư gan thường không có triệu chứng đặc biệt ở giai đoạn đầu. Do đó, nó dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các bệnh khác. Người bệnh thường mệt mỏi, chán ăn, cảm giác tức sườn bên phải, nhưng không đáng kể. Những triệu chứng lâm sàng chỉ thể hiện rõ rệt ở giai đoạn cuối của bệnh. Bệnh nhân sụt cân, bụng trướng, buồn nôn, đau nhiều ở hạ sườn phải...
Ung thư gan dẫn đến suy gan, gây rối loạn tiêu hóa, cũng như giảm đáng kể khả năng loại bỏ chất độc hại ở máu. Ngoài ra, ung thư gan còn có thể di căn sang các bộ phận khác như xương, thận, và phổi.
Phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh
Hiện tại ung thư gan chỉ có thể được điều trị nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm. Một số biện pháp điều trị ung thư gan phổ biến đang được áp dụng như: Phẫu thuật, hóa trị liệu làm nghẽn động mạch gan (TACE), đốt khối u bằng sóng radio cao tần. Ngoài ra, bệnh nhân có thể sử dụng Sorafenib (tên thương mại Nexavar) cho chỉ định ung thư biểu mô tế bào gan nhằm kéo dài thời gian sống. Đây là phương pháp điều trị không xâm lấn đầu tiên trong điều trị ung thư gan. Hoạt chất Sorafenib với cơ chế “nhắm trúng đích” tác động trực tiếp vào các tế bào ác tính nhằm ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư, đồng thời, Sorafenib cũng ngăn cản máu lưu thông tới nuôi dưỡng khối u. Sorafenib không chữa khỏi bệnh nhưng nó trì hoãn quá trình tiến triển của bệnh một cách đáng kể, giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân. Chính vì vậy, người ta thường dùng Sorafenib kết hợp với một phương pháp điều trị khác. Phổ biến nhất là dùng cho bệnh nhân sau phẫu thuật và bệnh nhân ở giai đoạn 2.
Ung thư gan là một căn bệnh nguy hiểm và rất khó điều trị. Do vậy, phòng bệnh là việc hết sức cần thiết. Một số biện pháp có thể phòng bệnh ung thư gan như: tiêm ngừa vaccine phòng chống viêm gan B, hạn chế rượu bia, thức ăn với hàm lượng chất béo cao, cũng như không sử dụng các thực phẩm ngũ cốc bị nấm mốc, và điều chỉnh phong cách sống lành mạnh.
Quan trọng hơn hết, chúng ta cần kiểm tra sức khỏe định kỳ, nhằm phát hiện sớm các bệnh về gan, và đặc biệt là ung thư gan ở giai đoạn sớm nhất. Có như vậy thì những phương pháp điều trị mới có tác dụng kịp thời, hiệu quả, tránh được việc di căn qua các bộ phận khác.

Tại Việt Nam, ung thư gan đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư, do tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B, và C khá cao, cũng như thói quen ăn uống không hợp lý.
Điều nguy hiểm là ung thư gan thường diễn biến thầm lặng, dẫn đến tử vong rất nhanh, trung bình từ 1 - 6 tháng kể từ khi phát bệnh. Điều này chứng tỏ sự cần thiết của việc tự bảo vệ bản thân cũng như thường xuyên kiểm tra sức khỏe nhằm phát hiện bệnh sớm là vô cùng quan trọng.
Con đường dẫn đến ung thư gan
Hiện tại, nguyên nhân dẫn đến ung thư gan vẫn còn là một câu hỏi đau đầu cho nhiều nhà nghiên cứu, tuy nhiên một số yếu tố sau đây có liên quan đến quá trình phát triển của ung thư gan như:
* Các bệnh viêm gan do virus : hơn 70% bệnh nhân mắc bệnh ung thư gan có liên quan đến việc nhiễm virus viêm gan B và C. Bệnh chủ yếu lây lan qua đường máu, quan hệ tình dục, cũng như mẹ truyền sang con. Điều đáng quan ngại là tỷ lệ người nhiễm virus viêm gan B tại Việt Nam khá cao, và hiểu biết về bệnh còn thấp.
* Xơ gan : do các tế bào gan lành bị mô xô thay thế. Rượu, một số hóa chất (aflatoxin: một chất độc có trong các loại nấm, và ngũ cốc bị mốc), viêm gan mãn tính do virus viêm gan B hoặc C, là yếu tố có thể làm tế bào gan lành bị xơ hóa dẫn đến xơ gan. Tuy nhiên, chỉ một tỷ lệ nhỏ xơ gan chuyển thành ung thư gan.
Dấu hiệu bệnh
Ung thư gan thường không có triệu chứng đặc biệt ở giai đoạn đầu. Do đó, nó dễ bị bỏ qua hoặc nhầm lẫn với các bệnh khác. Người bệnh thường mệt mỏi, chán ăn, cảm giác tức sườn bên phải, nhưng không đáng kể. Những triệu chứng lâm sàng chỉ thể hiện rõ rệt ở giai đoạn cuối của bệnh. Bệnh nhân sụt cân, bụng trướng, buồn nôn, đau nhiều ở hạ sườn phải...
Ung thư gan dẫn đến suy gan, gây rối loạn tiêu hóa, cũng như giảm đáng kể khả năng loại bỏ chất độc hại ở máu. Ngoài ra, ung thư gan còn có thể di căn sang các bộ phận khác như xương, thận, và phổi.
Phòng bệnh tốt hơn chữa bệnh
Hiện tại ung thư gan chỉ có thể được điều trị nếu được phát hiện ở giai đoạn sớm. Một số biện pháp điều trị ung thư gan phổ biến đang được áp dụng như: Phẫu thuật, hóa trị liệu làm nghẽn động mạch gan (TACE), đốt khối u bằng sóng radio cao tần. Ngoài ra, bệnh nhân có thể sử dụng Sorafenib (tên thương mại Nexavar) cho chỉ định ung thư biểu mô tế bào gan nhằm kéo dài thời gian sống. Đây là phương pháp điều trị không xâm lấn đầu tiên trong điều trị ung thư gan. Hoạt chất Sorafenib với cơ chế “nhắm trúng đích” tác động trực tiếp vào các tế bào ác tính nhằm ngăn cản sự phát triển của tế bào ung thư, đồng thời, Sorafenib cũng ngăn cản máu lưu thông tới nuôi dưỡng khối u. Sorafenib không chữa khỏi bệnh nhưng nó trì hoãn quá trình tiến triển của bệnh một cách đáng kể, giúp kéo dài sự sống cho bệnh nhân. Chính vì vậy, người ta thường dùng Sorafenib kết hợp với một phương pháp điều trị khác. Phổ biến nhất là dùng cho bệnh nhân sau phẫu thuật và bệnh nhân ở giai đoạn 2.
Ung thư gan là một căn bệnh nguy hiểm và rất khó điều trị. Do vậy, phòng bệnh là việc hết sức cần thiết. Một số biện pháp có thể phòng bệnh ung thư gan như: tiêm ngừa vaccine phòng chống viêm gan B, hạn chế rượu bia, thức ăn với hàm lượng chất béo cao, cũng như không sử dụng các thực phẩm ngũ cốc bị nấm mốc, và điều chỉnh phong cách sống lành mạnh.
Quan trọng hơn hết, chúng ta cần kiểm tra sức khỏe định kỳ, nhằm phát hiện sớm các bệnh về gan, và đặc biệt là ung thư gan ở giai đoạn sớm nhất. Có như vậy thì những phương pháp điều trị mới có tác dụng kịp thời, hiệu quả, tránh được việc di căn qua các bộ phận khác.
Anh Thư
Theo Thanh Niên Online
Theo Thanh Niên Online
Chướng bụng - dấu hiệu hay bị bỏ qua trong ung thư cổ tử cung
Hơn một nửa số phụ nữ mắc ung thư cổ tử cung đối mặt với việc chẩn đoán muộn chết người, các nhà nghiên cứu vừa cảnh báo. Đó là bởi nhiều bác sĩ thường bỏ qua những dấu hiệu quan trọng giúp chẩn đoán sớm căn bệnh này.Căn bệnh hiện ảnh hưởng đến 7.000 phụ nữ mỗi năm, được mệnh danh là "kẻ giết người thầm lặng", do các triệu chứng của nó thường được chẩn đoán quá muộn.
Viết trên tạp chí British Medical Journal, nhóm nghiên cứu từ Đại học Bristol cảnh báo các bác sĩ có thể đã bỏ qua một triệu chứng cơ bản của ung thư cổ tử cung, bởi nó không có trong bản hướng dẫn hiện tại đối với các trường hợp cần xét nghiệm khẩn: đó là hiện tượng chướng bụng.
Theo DailyMail, những phụ nữ bị chướng bụng cần được làm ngay các xét nghiệm, bởi vì người mang triệu chứng này thì có nguy cơ bị ung thư cổ tử cung cao gấp đôi.
Trong khi đó, những khuyến cáo hiện nay chỉ dừng lại ở các triệu chứng là chảy máu bất thường hoặc có khối mềm có thể sờ thấy.

Nghiên cứu đã tìm hiểu trên 212 phụ nữ tuổi từ 40 trở lên và từng khám tại 39 phòng khám đa khoa, so với 1.000 phụ nữ khỏe mạnh.
4 triệu chứng thường gặp nhất là chướng bụng, đau, chảy máu và mất cảm giác thèm ăn.
Các triệu chứng khác là đi tiểu thường xuyên, táo bón hoặc tiêu chảy, chảy máu bất thường, giảm cân và mệt mỏi.

Tuy nhiên một vài phụ nữ thông báo dấu hiệu chướng bụng, đi tiểu thường xuyên và đau bụng phải đợi ít nhất 6 tháng mới có được chẩn đoán chính thức.
T. An
Theo VnExpress
Theo VnExpress
Ung thư cổ tử cung - bệnh do nhiễm virus
Nhiều người nghĩ ung thư chẳng liên quan gì đến bệnh truyền nhiễm; điều đó không đúng với ung thư cổ tử cung.
Virus gây u nhú vùng sinh dục - HPV - có thể dẫn đến bệnh này. Vì vậy, quan hệ tình dục không an toàn đồng nghĩa với việc truyền nguy cơ ung thư cho người khác.
"Có nhiều tác nhân dẫn đến ung thư, mà nhiễm virus là một trong số đó; chẳng hạn virus H.pylori có thể dẫn đến ung thư dạ dày, và virus HPV dẫn đến ung thư cổ tử cung" - tiến sĩ Nguyễn Bá Đức, Giám đốc Bệnh viện K Trung ương, nói. Ông cho biết, ung thư cổ tử cung là một trong hai loại ung thư mà phụ nữ Việt Nam hay mắc nhất; trong đó có đến 70-80% số trường hợp là do virus HPV.
HPV - Human papilloma virus - là loại virus gây mụn cơm, mụn cóc và các sùi mào gà (các u nhú) ở da, dương vật, âm hộ, hậu môn..., dẫn đến viêm da lành tính, hoặc viêm cơ quan sinh dục dẫn đến vô sinh. Trong hơn 100 chủng HPV, có 13 chủng dẫn đến ung thư.
Quá trình diễn tiến từ nhiễm virus đến ung thư thường lâu dài, từ loạn sản nhẹ, vừa, nặng đến ung thư tại chỗ (giai đoạn tổn thương có thể phục hồi và chữa khỏi hoàn toàn) đến ung thư xâm lấn (không có khả năng phục hồi). Không phải ai nhiễm các chủng HPV "độc" cũng bị ung thư cổ tử cung. Bệnh này thường xuất hiện khi có thêm các yếu tố nguy cơ như quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, vệ sinh kém, suy giảm miễn dịch, đẻ, nạo hút hay sẩy thai nhiều lần... Những tổn thương này tạo điều kiện cho virus HPV dễ tiếp cận hơn với lớp tế bào đáy cổ tử cung, vốn nằm sâu bên dưới. Sau khi xâm nhập, HPV gây biến đổi các tế bào này. Trải qua nhiều năm, tế bào trở thành ác tính.
Theo điều tra của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế, tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ toàn cầu dao động trong khoảng 9-13%, nghĩa là cứ 10 phụ nữ thì một bị nhiễm HPV. Virus chủ yếu lây qua da và quan hệ tình dục. Như vậy, khi thực hiện quan hệ tình dục không an toàn, người mang virus này đã truyền nguy cơ ung thư sang cho người khác.
Ở Việt Nam, nếu chỉ tính riêng ung thư cổ tử cung thì số người chết vì HPV đã cao hơn nhiều so với HIV. Trong 10 năm qua có khoảng 6.000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, cao gấp đôi số phụ nữ chết vì bệnh AIDS; mặc dù khác với HIV, các tổn thương do HPV, thậm chí ung thư, có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm. Tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam, phần lớn bệnh nhân ung thư cổ tử cung chỉ được phát hiện bệnh ở giai đoạn cuối, vài năm trước khi qua đời.
Tiến sĩ Nguyễn Bá Đức cho biết, khi ung thư chưa xâm lấn, bệnh nhân hầu như không có dấu hiệu lâm sàng, có thể ra nhiều khí hư hơn bình thường, khám phụ khoa cũng không thấy tổn thương. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ thường xuyên khám phụ khoa đúng định kỳ và làm xét nghiệm tế bào (được khuyến cáo với tất cả những phụ nữ có quan hệ tình dục), bệnh sẽ được phát hiện. Lúc này, khả năng chữa khỏi là 95%.
Khi ung thư đã xâm lấn, các triệu chứng mới rõ rệt như ra khí hư có mùi hôi, ra máu giữa kỳ kinh, sau mãn kinh hay sau giao hợp... Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân có thể đau bụng dưới, đau lưng, tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ còn khoảng 5%.
Theo tiến sĩ Đức, do nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là virus nên ung thư cổ tử cung có thể dự phòng bằng văcxin, hiện đã được dùng ở nhiều nước với hiệu quả khoảng 70%. Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, dự kiến cuối năm nay, văcxin này cũng sẽ được thử nghiệm ở Việt Nam trên một số phụ nữ tuổi 9-26. Ngoài ung thư, văcxin này cũng giúp tránh các tổn thương khác do virus HPV như mụn cóc, sùi mào gà...
Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo, việc sử dụng văcxin không thể thay thế các biện pháp phòng ngừa khác như giữ vệ sinh cơ thể và vệ sinh tình dục, khám phụ khoa định kỳ. Phụ nữ đã có quan hệ tình dục thường xuyên nên làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo hằng năm hay tối thiểu 3 năm một lần, nhất là với người ngoài 35 tuổi. Với những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ cao (nhiễm virus HPV, nhiều bạn tình, quan hệ sớm, nạo hút, sinh nở hay sẩy thai nhiều lần...), cần làm xét nghiệm mỗi năm.
Virus gây u nhú vùng sinh dục - HPV - có thể dẫn đến bệnh này. Vì vậy, quan hệ tình dục không an toàn đồng nghĩa với việc truyền nguy cơ ung thư cho người khác."Có nhiều tác nhân dẫn đến ung thư, mà nhiễm virus là một trong số đó; chẳng hạn virus H.pylori có thể dẫn đến ung thư dạ dày, và virus HPV dẫn đến ung thư cổ tử cung" - tiến sĩ Nguyễn Bá Đức, Giám đốc Bệnh viện K Trung ương, nói. Ông cho biết, ung thư cổ tử cung là một trong hai loại ung thư mà phụ nữ Việt Nam hay mắc nhất; trong đó có đến 70-80% số trường hợp là do virus HPV.
HPV - Human papilloma virus - là loại virus gây mụn cơm, mụn cóc và các sùi mào gà (các u nhú) ở da, dương vật, âm hộ, hậu môn..., dẫn đến viêm da lành tính, hoặc viêm cơ quan sinh dục dẫn đến vô sinh. Trong hơn 100 chủng HPV, có 13 chủng dẫn đến ung thư.
Quá trình diễn tiến từ nhiễm virus đến ung thư thường lâu dài, từ loạn sản nhẹ, vừa, nặng đến ung thư tại chỗ (giai đoạn tổn thương có thể phục hồi và chữa khỏi hoàn toàn) đến ung thư xâm lấn (không có khả năng phục hồi). Không phải ai nhiễm các chủng HPV "độc" cũng bị ung thư cổ tử cung. Bệnh này thường xuất hiện khi có thêm các yếu tố nguy cơ như quan hệ tình dục sớm, nhiều bạn tình, vệ sinh kém, suy giảm miễn dịch, đẻ, nạo hút hay sẩy thai nhiều lần... Những tổn thương này tạo điều kiện cho virus HPV dễ tiếp cận hơn với lớp tế bào đáy cổ tử cung, vốn nằm sâu bên dưới. Sau khi xâm nhập, HPV gây biến đổi các tế bào này. Trải qua nhiều năm, tế bào trở thành ác tính.
Theo điều tra của Cơ quan nghiên cứu ung thư quốc tế, tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ toàn cầu dao động trong khoảng 9-13%, nghĩa là cứ 10 phụ nữ thì một bị nhiễm HPV. Virus chủ yếu lây qua da và quan hệ tình dục. Như vậy, khi thực hiện quan hệ tình dục không an toàn, người mang virus này đã truyền nguy cơ ung thư sang cho người khác.
Ở Việt Nam, nếu chỉ tính riêng ung thư cổ tử cung thì số người chết vì HPV đã cao hơn nhiều so với HIV. Trong 10 năm qua có khoảng 6.000 phụ nữ chết vì ung thư cổ tử cung, cao gấp đôi số phụ nữ chết vì bệnh AIDS; mặc dù khác với HIV, các tổn thương do HPV, thậm chí ung thư, có thể chữa khỏi hoàn toàn nếu được phát hiện sớm. Tuy nhiên trên thực tế ở Việt Nam, phần lớn bệnh nhân ung thư cổ tử cung chỉ được phát hiện bệnh ở giai đoạn cuối, vài năm trước khi qua đời.
Tiến sĩ Nguyễn Bá Đức cho biết, khi ung thư chưa xâm lấn, bệnh nhân hầu như không có dấu hiệu lâm sàng, có thể ra nhiều khí hư hơn bình thường, khám phụ khoa cũng không thấy tổn thương. Tuy nhiên, nếu người phụ nữ thường xuyên khám phụ khoa đúng định kỳ và làm xét nghiệm tế bào (được khuyến cáo với tất cả những phụ nữ có quan hệ tình dục), bệnh sẽ được phát hiện. Lúc này, khả năng chữa khỏi là 95%.
Khi ung thư đã xâm lấn, các triệu chứng mới rõ rệt như ra khí hư có mùi hôi, ra máu giữa kỳ kinh, sau mãn kinh hay sau giao hợp... Ở giai đoạn cuối, bệnh nhân có thể đau bụng dưới, đau lưng, tỷ lệ sống thêm 5 năm chỉ còn khoảng 5%.
Theo tiến sĩ Đức, do nguyên nhân gây bệnh chủ yếu là virus nên ung thư cổ tử cung có thể dự phòng bằng văcxin, hiện đã được dùng ở nhiều nước với hiệu quả khoảng 70%. Tiến sĩ Nguyễn Trần Hiển, Viện trưởng Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương cho biết, dự kiến cuối năm nay, văcxin này cũng sẽ được thử nghiệm ở Việt Nam trên một số phụ nữ tuổi 9-26. Ngoài ung thư, văcxin này cũng giúp tránh các tổn thương khác do virus HPV như mụn cóc, sùi mào gà...
Tuy nhiên, các chuyên gia khuyến cáo, việc sử dụng văcxin không thể thay thế các biện pháp phòng ngừa khác như giữ vệ sinh cơ thể và vệ sinh tình dục, khám phụ khoa định kỳ. Phụ nữ đã có quan hệ tình dục thường xuyên nên làm xét nghiệm phiến đồ âm đạo hằng năm hay tối thiểu 3 năm một lần, nhất là với người ngoài 35 tuổi. Với những phụ nữ có các yếu tố nguy cơ cao (nhiễm virus HPV, nhiều bạn tình, quan hệ sớm, nạo hút, sinh nở hay sẩy thai nhiều lần...), cần làm xét nghiệm mỗi năm.
Theo Tủ sách Khoa học


