RSS Bài đăng | Nhận xét
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh thận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn bệnh thận. Hiển thị tất cả bài đăng

Hướng dẫn cơ bản về bệnh tiền sản giật

Tôi cảm thấy khỏe mạnh. Tại sao tôi cần phải thường xuyên đi khám với nữ hộ sinh?

Nữ hộ sinh của quý vị sẽ:
  • Giúp bảo vệ an toàn cho quý vị và con quý vị.
  • Tìm hiểu về quý vị và nhận biết những thay đổi có thể cho thấy quý vị đang có nguy cơ mắc bệnh, thí dụ như bệnh tiền sản giật.

Bệnh tiền sản giật là gì?

  • Tiền sản giật là một căn bệnh xuất hiện trong thời gian mang thai.
  • Bệnh này thường ở mức độ nhẹ.
  • Đôi khi bệnh có thể nghiêm trọng.
  • Bệnh có thể ảnh hưởng tới quý vị và con của quý vị.

Trước đây bệnh tiền sản giật từng được gọi là chứng nhiễm độc huyết thai nghén.

Bệnh này có thể gây hại cho tôi và con của tôi như thế nào?

  • Bệnh tiền sản giật có thể làm huyết áp tăng cao hơn mức bình thường và gây ra các vấn đề khác.
  • Bệnh tiền sản giật có thể khiến con quý vị không nhận được đủ thức ăn hoặc ôxy.
  • Con quý vị có thể phát triển chậm hơn và có thể phát sinh các vấn đề khác.

Tôi có khả năng mắc bệnh này không?

Quý vị dễ có khả năng mắc căn bệnh này hơn nếu:

  • Quý vị đang mang thai lần đầu.
  • Có người thân gần gũi (mẹ hoặc chị (em) gái) đã từng mắc bệnh tiền sản giật.
  • Quý vị từ 40 tuổi trở lên.
  • Quý vị đã bị bệnh huyết áp cao.
  • Quý vị mắc bệnh thận hoặc bệnh tiểu đường.
  • Quý vị sẽ sinh đôi, sinh ba, hoặc nhiều hơn.
  • Quý vị đã từng mắc bệnh này.
  • Chỉ Số Khối Lượng Cơ Thể (BMI) của quý vị ở mức 35 trở lên.
  • Lần cuối cùng quý vị sinh con là cách đây từ 10 năm trở lên.
  • Quý vị có các bệnh trạng khác, thí dụ như bệnh huyết áp cao, bệnh thận, bệnh tiểu đường hoặc hội chứng kháng phốt-pho mỡ.
Làm thế nào để biết là tôi có mắc bệnh tiền sản giật hay không?

Bệnh tiền sản giật xuất hiện trong giai đoạn thai kỳ thứ hai.

Hãy lưu ý tới các triệu chứng sau đây:
  • Những cơn đau đầu dữ dội và không dứt.
  • Thị lực mờ, nhìn thấy các điểm hoặc ánh sáng nhấp nháy trước mắt.
  • Đau dữ dội ngay phía dưới vùng xương sườn, đặc biệt là ở vùng bên phải.
Đây có thể là các dấu hiệu của bệnh tiền sản giật.

Nữ hộ sinh của tôi có thể làm gì để giúp tôi?

  • Thường xuyên đo huyết áp.
  • Làm xét nghiệm nước tiểu để đo lượng chất đạm.
Huyết áp tăng cao và có chất đạm trong nước tiểu có thể là các dấu hiệu của bệnh tiền sản giật.

Có thể làm gì để giúp tôi và con tôi nếu tôi mắc bệnh tiền sản giật?

  • Việc phát hiện sớm bệnh tiền sản giật có thể giúp bảo vệ an toàn cho quý vị và con quý vị một cách dễ dàng hơn.
  • Quý vị có thể được điều trị để giúp giảm bớt huyết áp.
  • Quý vị có thể được đề nghị nằm viện để các bác sĩ và nữ hộ sinh có thể theo dõi chặt chẽ tình trạng sức khỏe của quý vị và con quý vị.
  • Quý vị có thể sinh con thiếu tháng.
Bệnh tiền sản giật sẽ không đỡ cho tới sau khi con quý vị chào đời, sau đó quý vị sẽ bình phục một cách nhanh chóng.

Nếu tôi mắc bệnh tiền sản giật, đó có phải là lỗi của tôi không?

  • Không. Không có gì quý vị có thể làm để ngăn ngừa căn bệnh này.
  • Huyết áp cao trong trường hợp mắc bệnh tiền sản giật không phải là do lo lắng hoặc tâm trạng căng thẳng hoặc do làm việc trong khi đang mang thai.
(sưu tầm)

Viêm thận - tiết niệu ở phụ nữ mang thai

Viêm thận tiết niệu ở phụ nữ mang thai Triệu chứng bệnh viêm thận - tiết niệu rất thất thường, có khi rất kín đáo nên sản phụ không biết. Bệnh được phát hiện qua một xét nghiệm thông thường. Có khi chỉ là một suy giảm chức năng đã phải chú ý tới tổn thương nhu mô thận. Những biến đổi chức năng của đường tiết niệu dưới rất quan trọng vì viêm nhiễm thường xuất phát từ đây. Mỗi khi sản phụ bị sốt chưa rõ nguyên nhân, ta phải chú ý ngay tới viêm thận - tiết niệu.

Nếu sốt kèm theo rét run, đau lưng và đái buốt thì sản phụ cần đi khám để được điều trị kịp thời. Bệnh viêm bể thận - thận. sẽ khỏi nếu được điều trị sớm kể cả khi viêm nhiễm chưa thật rõ ràng hoặc còn kín đáo. Nếu không điều trị thì tình trạng thai nghén sẽ làm tăng thêm các nguy cơ. Nếu bệnh tái diễn và vi khuẩn cũ tồn tại thì phải nghĩ tới một chướng ngại vật trên đường tiết niệu. Phải siêu âm hoặc chụp X-quang để xác định là u, sỏi hoặc chít hẹp. Những xét nghiệm này còn phải làm lại sau sinh từ 6 - 8 tuần, khi các đường bài xuất đã trở lại trạng thái bình thường.

Ở phụ nữ mang thai, bệnh viêm thận - tiết niệu sẽ nặng hơn vì các biến đổi sinh lý ở thận và đường tiết niệu của sản phụ đã làm tiên lượng của bệnh xấu đi. Các đường bài xuất nước tiểu bị giãn to do tác dụng của progesteron (nội tiết tố nữ) hoặc do sự chèn ép cơ học của tử cung ngày càng to. Các nhu động của bể thận, niệu quản bị suy giảm nên lưu thông nước tiểu kém. Trong nước tiểu sản phụ, lượng đường thường tăng cao kể cả khi không có bệnh đái tháo đường. Kali huyết của sản phụ hạ thấp do nôn mửa hoặc uống thuốc lợi tiểu. Chính những thay đổi nội tiết trong những ngày đầu mang thai đã làm viêm nhiễm phát sinh và phát triển, ngay cả khi chưa có những biến đổi về giải phẫu của đường bài xuất nước tiểu. Tất cả những yếu tố trên đã góp phần làm tăng thêm nguy cơ cho thai nghén. Nếu trước đây sản phụ đã từng bị viêm cầu thận, sỏi tiết niệu hoặc một dị tật bẩm sinh ở đường bài xuất hoặc bị bệnh đái tháo đường thì chắc chắn nguy cơ sẽ lớn hơn nhiều.

Viêm thận - tiết niệu phải được điều trị bằng thuốc kháng sinh. Nhưng dùng kháng sinh gì, trong bao lâu... nhất thiết phải do các thầy thuốc chuyên khoa chỉ định. Lưu ý, không được thông bàng quang cho sản phụ vì dễ gây ra viêm bể thận - thận ngược dòng kéo dài, rất khó điều trị.

Bác sĩ Tống Hồng Nhung
Theo Sức khỏe & Đời sống

Đa dâm có gây "bại thận"?

Đa dâm Mọi quan hệ tình dục không đảm bảo vệ sinh, không an toàn đều có thể gây viêm nhiễm không chỉ ở cơ quan sinh dục mà còn gây viêm nhiễm ngược dòng lên đường tiết niệu. Khi hệ tiêt niệu bị bệnh, đặc biệt là thận, những chất gây độc hại không được thải loại, huyết áp tăng cao, cơ thể sẽ mệt mỏi, thể chất và tinh thần bị ảnh hưởng, cảm hứng tình dục cũng vì thế mà giảm đi.

Cơ thể bao gồm nhiều cơ quan, hệ thống tất cả là một khối thống nhất, tất cả đều có mối quan hệ rất chặt chẽ, ảnh hưởng trực tiếp qua lại lẫn nhau. Thận - là cơ quan thuộc hệ tiết niệu nằm ở hố thắt lưng, cạnh cột sống. Các chất độc hại như Urea, Creatinine, Acid Uric. Bilirubin … sinh ra trong quá trình chuyển hóa theo máu đến thận được thanh lọc, đào thải cùng với nước theo niệu quản xuống bàng quang, rồi theo niệu đạo ra ngoài cơ thể.

Đau mỏi vùng thận

Cột sống thắt lưng có cấu tạo cong về phía trước, là nơi chịu nhiều trọng lực của cơ thể, phía sau là hai khối cơ lưng to, sức co kéo rất lớn. Đau vùng lưng, thắt lưng là triệu chứng của rất nhiều bệnh thuộc đốt sống, dây chằng đĩa đệm, dây thần kinh và một số cơ quan lân cận như thận, tiết niệu. Hành vi quan hệ tình dục bao gồm sự tăng cường hoạt động của hệ tim mạch, hô hấp, thần kinh, nội tiết, và hệ vận động. Tuy nhiên các cơ quan hệ thống đều có sự hồi phục nhanh chóng sau thời gian thư giãn.

Đối với hệ thống cơ, xương, khớp thường được hồi phục chậm hơn và gây nên hiện tượng đau mỏi vùng lưng, thắt lưng. Đối với những trường hợp có quan hệ tình dục nhiều hơn bình thường và không an toàn sẽ gây ảnh hưởng sấu đến hệ tiết niệu – một hệ thống có quan hệ gần gũi hơn về giải phẫu, dễ gây viêm nhiễm thận, tiết niệu, chính vì lẽ đó mà dân gian có quan niệm “đa dâm bại thận”

Những ảnh hưởng của hệ tiết niệu đến hoạt động tình dục

Hoạt động tình dục chịu sự ảnh hưởng rất lớn của yếu tố thể chất, tinh thần và xã hội riêng của từng cá thể. Khi hệ tiết niệu bị bệnh, đặc biệt là thận, những chất gây độc với cơ thể không hoặc ít được đào thải, nồng độ các chất Urê, Creatinine, Bilirubin …. tăng cao trong máu, huyết áp tăng cao, cơ thể sẽ mệt mỏi, đau đầu trong khi đó lại xuất hiện nhiều chất lẽ ra không được xuất hiện trong thành phần nước tiểu như tế bào máu, Protein, đường …

Tùy theo mức độ nặng hay nhẹ, bệnh thận, tiết niệu có biểu hiện đau âm ỉ vùng thắt lưng, tiểu tiện buốt dắt, đi nhiều lần về đêm, nước tiểu đỏ, vàng hay tiểu đục, ứ nước dưới da gây phù. Bệnh thận, tiết niệu có thể là cấp tính, nếu không được phát hiện điều trị đúng và tích cực, bệnh sẽ trở thành mãn tính và có thể dẫn đến suy thận. Hệ tiết niệu bị tổn thương thực thể, sức khỏe thể chất bị ảnh hưởng, tinh thần không thể thoải mái, cảm hứng tình dục cũng vì thế mà giảm đi rõ rệt, người xưa có câu “nữ sợ thương tâm, nam sợ thương thận”. Mặt khác những thuốc nội tiết dùng trong điều trị bệnh tiểu đường, thuốc lợi tiểu, hạ huyết áp … đều có ảnh hưởng không tốt đến quan hệ tình dục.

Cần kiêng quan hệ tinh dục trong những trường hợp có dấu hiệu phù nặng ở ngực, bụng và hai chi dưới; có triệu chứng cao huyết áp nặng, đau đầu chóng mặt; nước tiểu chứa nhiều Protein; giai đoạn cấp tính của viêm thận; đợt cấp tính của viêm bể thận mãn, ngoài ra trong những giai đoạn bệnh ổn định, cần hạn chế số lần quan hệ tình dục.

Thận, tiết niệu cũng như các hệ thống khác trong cơ thể đều có ảnh hưởng đến hoạt động tình dục. Tuy nhiên ở người có sắc dục lớn hơn bình thường cũng không phải là nguyên nhân trực tiếp gây nên bệnh thận, nếu đó là những lần quan hệ tình dục đảm bảo vệ sinh và an toàn. Ngược lại những người mắc bệnh suy giảm chức năng tình dục không nhất thiết phải có kèm theo bệnh “thận hư” hay “bại thận”. Dùng thuốc bổ thận, không làm cho người ta “cường dương”, quan niệm “ăn gì bổ nấy” cũng không được khoa học công nhận.

BS.Bùi Hiền
Theo Sức khỏe & Đời sống

Biến chứng tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường

Đo tim mạch ở bệnh nhân đái tháo đường Đái tháo đường (ĐTĐ) là yếu tố nguy cơ quan trọng gây ra bệnh động mạch vành (đmv) và đột qụy. Có tới 80% các bệnh nhân ĐTĐ bị tử vong do nguyên nhân vữa xơ động mạch, so với khoảng 30% ở những người không bị ĐTĐ. Nguyên nhân chủ yếu là ĐTĐ đã làm thúc đẩy nhanh tiến trình tự nhiên của vữa xơ động mạch ở tất cả các nhóm bệnh nhân. Chụp đmv cho thấy các bệnh nhân ĐTĐ có tổn thương nhiều nhánh đmv hơn, tổn thương lan tỏa, phức tạp hơn.

Các biến chứng thường gặp của ĐTĐ

Khoảng 90% bệnh nhân ĐTĐ thuộc týp 2, thường sau tuổi 40. Cơ chế chuyển hóa của ĐTĐ týp 2 là sự kết hợp đề kháng insulin và giảm dần chức năng tiết insulin của các tề bào bêta tuyến tụy. Đề kháng insulin xuất hiện trước ĐTĐ týp 2 khoảng 8 -10 năm và thường kèm theo các yếu tố nguy cơ tim mạch khác như rối loạn lipid máu, tăng huyết áp, tình trạng tăng đông máu. Sự kết hợp của các yếu tố nguy cơ này được gọi là Hội chứng chuyển hóa (HCCH) hay Hội chứng tim mạch rối loạn chuyển hóa. Rất nhiều bệnh nhân bị HCCH có biểu hiện suy giảm dung nạp glucose máu lúc đói hay rối loạn dung nạp glucose nhiều năm trước khi xuất hiện ĐTĐ.

Ngược lại với ĐTĐ týp 2, ĐTĐ týp 1 chỉ chiếm khoảng 10% các bệnh nhân ĐTĐ. Nguyên nhân thường do hiện tượng miễn dịch làm phá hủy các tế bào bêta của tuyến tụy. ĐTĐ týp 1 hay xuất hiện ở hai thời điểm là 4 tuổi và 13 tuổi, nhưng cũng có thể xuất hiện ở bất kỳ lứa tuổi nào. Bệnh đặc trưng là gây ra các biến chứng bệnh lý vi mạch (bệnh thận, bệnh võng mạc mắt) nhưng cũng có thể gây ra bệnh đmv.

Bên cạnh đó, tỷ lệ tử vong do đột qụy ở các bệnh nhân ĐTĐ cao gấp 3 lần so với những người không bị ĐTĐ. Thêm vào đó, ĐTĐ làm tăng khả năng bị vữa xơ nặng hệ động mạch cảnh. Các bệnh nhân ĐTĐ có nguy cơ bị tổn thương não trầm trọng hơn khi bị thuyên tắc mạch do vữa xơ động mạch cảnh, trong khi các bệnh nhân không bị ĐTĐ có thể chỉ bị thiếu máu não thoáng qua.

Vữa xơ động mạch ở bệnh nhân ĐTĐ

ĐTĐ týp 2 và bệnh ĐMV

Bệnh ĐMV rất hay gặp ở bệnh nhân ĐTĐ týp 2 và là nguyên nhân chủ yếu gây tử vong không liên quan đến thời gian bệnh nhân mắc bệnh. ĐTĐ týp 2 làm tăng nguy cơ bị các bệnh lý tim mạch lên từ 2-4 lần khi so với những người không bị ĐTĐ. Tỷ lệ này đặc biệt tăng cao ở các bệnh nhân nữ so với bệnh nhân nam. Mức độ và thời gian bị tăng đường máu là các yếu tố nguy cơ quan trọng làm xuất hiện các biến chứng vi mạch ở các bệnh nhân ĐTĐ týp 1, nhưng trong ĐTĐ týp 2 thì không thấy có sự liên quan giữa thời gian và mức độ trầm trọng của bệnh với biến chứng vi mạch. Thậm chí với rối loạn dung nạp đường máu đã làm tăng nguy cơ tim mạch mặc dù chỉ tăng đường máu một cách tối thiểu.

Về mặt di truyền, những người có đề kháng insulin thì có thể xuất hiện ĐTĐ týp 2. Một số yếu tố gây vữa xơ động mạch hay gặp cùng với đề kháng insulin làm khởi phát quá trình vữa xơ động mạch nhiều năm trước khi tăng đường máu biểu hiện trên lâm sàng. Nhiều nghiên cứu cho thấy có sự liên quan giữa tăng insulin khi đói hay sau ăn với sự xuất hiện bệnh ĐMV trong tương lai. Tuy nhiên sự liên quan này chỉ thấy ở những nam giới tuổi trung niên mà không thấy ở nữ giới.

Mặc dù có nhiều yếu tố tham gia gây bệnh ĐMV, nhưng các nghiên cứu cho thấy nồng độ đường máu cao làm tăng nguy cơ mắc bệnh ĐMV và các biến chứng tim mạch khác.

ĐTĐ týp 1 và bệnh ĐMV

Các yếu tố nguy cơ tim mạch có sự liên quan với mức độ tăng đường máu ở bệnh nhân ĐTĐ týp 1, làm tỷ lệ tử vong do bệnh tăng lên sau tuổi 30. Tỷ lệ tử vong do bệnh ĐMV ở bệnh nhân ĐTĐ týp 1 tăng lên một cách đáng kể, và 1/3 số bệnh nhân này sẽ bị tử vong do bệnh ĐMV ở độ tuổi 55. Tác dụng bảo vệ của các hormon sinh dục nữ ở độ tuổi chưa mãn kinh cũng không thấy ở những phụ nữ bị ĐTĐ týp 1.

Bệnh thận do ĐTĐ làm tăng rõ rệt tỷ lệ bị bệnh ĐMV. Bệnh thận do ĐTĐ được xác định là tiểu đạm, giảm mức lọc cầu thận và tăng huyết áp. Các bệnh nhân tiểu đạm được chia làm 2 nhóm: những người có đạm niệu (tiểu ra 300mg/ngày) và những người vi đạm niệu (tiểu ra 30-300 mg/ngày). Sự xuất hiện đạm niệu làm tăng nguy cơ tử vong do tim mạch lên gần 10 lần so với các bệnh nhân không có tiểu đạm. Nguy cơ xuất hiện bệnh ĐMV tăng gấp 15 lần ở các bệnh nhân có tiểu đạm so với các bệnh nhân không có bệnh thận do ĐTĐ. Vì nguy cơ mắc bệnh và nguy cơ tử vong do bệnh ĐMV đã được chứng minh ở cả 2 nhóm bệnh nhân tiểu đạm và vi đạm niệu, do vậy cần kiểm tra đạm niệu định kỳ cho các bệnh nhân ĐTĐ.

Biến chứng tim mạch ở bệnh nhân ĐTĐ là cực kỳ nguy hiểm và rất thường gặp, do vậy muốn kiểm soát tốt ĐTĐ không chỉ kiểm tra đường huyết thường xuyên mà còn kiểm tra định kỳ huyết áp, lipid máu, xét nghiệm nước tiểu... Việc điều trị những biến chứng này phải kết hợp tốt với điều trị bệnh ĐTĐ.

TS.Nguyễn Quang Tuấn
Theo Sức khỏe & Đời sống

Sự liên quan giữa sỏi thận và bệnh suy thận

Suy thận Sỏi thận hay bệnh sỏi niệu, sỏi bàng quang v.v, dù tên gọi thế nào thì cũng có một nghĩa chung là có sự hình thành chất khoáng cô đặc trong thận hay ở hệ tiết niệu. Phần lớn sỏi thận được hình thành do giảm lượng nước tiểu hay do tăng lượng khoáng chất tạo thành sỏi trong nước tiểu.

Sỏi tiết niệu có thể hình thành trong thận nơi tập hợp nước tiểu, được gọi là bể thận, bàng quang (là nơi giữ nước tiểu trước khi được đưa ra ngoài cơ thể) hay niệu đạo (ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài cơ thể). Sỏi thận có nhiều kích cỡ khác nhau, nó có thể từ cỡ nhỏ như những hạt cát và có sỏi lớn bằng quả bóng golf. Có những sỏi tự ra ngoài qua đường tiểu, nhưng cũng có sỏi thận gây đau đớn và không thể tự ra ngoài qua đường tiểu nếu không có sự can thiệp của thuốc men hay các phương pháp điều trị khác.

Sỏi thận là gì?

Phần lớn các trường hợp sỏi thận hình thành do lượng nước quá ít (từ việc mất nước do uống ít nước hoặc tập thể thao quá sức), sự thừa khoáng tinh thể trong nước tiểu, và/hoặc mức khoáng chất phân nhỏ hơn mức bình thường trong nước tiểu. Các khoáng chất như canxi, oxalate, uric axit, Natri, cystine hay phốt-pho kết thành một khối rắn và đó chính là sỏi thận. Sỏi thận cũng có thể ra ngoài qua đường tiểu, nhưng cũng có thể ở trong thận, bàng quang hay niệu đạo.

Nói chung sỏi nhỏ có thể tự ra ngoài mà không ảnh hưởng gì, nhưng nếu sỏi lớn, có thể bị mắc lại trên đường ra và sẽ cần phải có sự trợ giúp của bác sỹ chuyên khoa để lấy sỏi ra ngoài.

Điều quan trọng là phải tìm ra nguyên nhân gây sỏi thận và loại sỏi thận, từ đó mới tìm được cách chữa trị tốt nhất và cách phòng tránh. Nếu một người đã từng bị sỏi thận, rất có khả năng sẽ bị hình thành sỏi tiếp. Sỏi tiết niệu có thể gây cản trở cho thận trong việc loại bỏ các chất độc hại. Một viên sỏi trong thận cũng có thể xù xì, lởm chởm hoặc có các cạnh sắc nhọn và có thể làm tổn thương tạo nên những vết sẹo trong thận, dẫn đến thận bị hỏng và đôi khi gây nên suy thận.

Những triệu chứng của sỏi thận

Bạn có thể không biết rằng mình bị sỏi thận cho đến khi nó gây đau đớn, là sỏi lớn và chặn đường tiểu hoặc đôi khi đi tiểu ra sỏi mới biết. Triệu chứng thông thường là cơn đau dữ dội, không đều bắt đầu từ vùng của thận, là sau lưng ở phía dưới hoặc phía dưới xương sườn. Cơn đau có khuynh hướng di chuyển cùng với sỏi. Nếu sỏi dừng không di chuyển thì cơn đau cũng hết. Ngoài ra còn có các triệu chứng sau :
  • Nước tiểu có máu hoặc màu đục, có mùi
  • Choáng váng và/hoặc nôn
  • Sốt và/hoặc ớn lạnh
  • Cảm giác bỏng rát, đau khi tiểu
Nếu bạn có bất kể một triệu chứng nào kể trên, hãy đến gặp bác sỹ ngay. Chữa trị sỏi thận sớm có thể ngăn chặn được các biến chứng nguy hiểm như bệnh về thận, đặc biệt nghiêm trọng là có thể gây suy thận.

Các loại sỏi thận và cách hình thành sỏi :

Có bốn loại sỏi thận chính : sỏi canxi, sỏi struvite, sỏi cystine và uric acid.
  • Sỏi Canxi là loại sỏi phổ biến nhất. Khoảng 80-90% sỏi thận là canxi với một vài khoáng chất khác (thường là oxalate và phosphate). Lượng canxi dư thừa trong cơ thể không sử dụng hết được loại bỏ qua thận, luợng dư thừa này thường chảy vào nước tiểu. Nếu canxi không được đưa ra ngoài, hoặc đơn giản là quá nhiều để có thể hoà tan trong nước tiểu, nó sẽ rắn lại và kết hợp với các khoáng chất khác tạo thành sỏi. Sỏi canxi thường xuất hiện ở những nguời có lượng Vitamin D cao hoặc bị cường tuyến giáp (hạch tuyến giáp quá nhạy cảm). Những người bị suy thận thường có khả năng bị sỏi canxi.
  • Sỏi khuẩn là loại sỏi thường được hình thành sau khi bị viêm đường tiết niệu. Loại này khá phổ biến ở phụ nữ, do phụ nữ cũng dễ bị viêm đường tiết niệu hơn nam giới. Viêm đường tiết niệu mãn tính tạo ra enzyme làm tăng lượng amoniac trong nước tiểu. Lượng amoniac dư thừa này làm vi khuẩn có thể phát sinh nhanh hơn tạo điều kiện cho sỏi khuẩn hình thành. Sỏi khuẩn thường có nhiều cạnh nhọn, hoặc phân nhánh thành sừng và kích thước có thể phát triển lớn làm tổn thương đến thận.
  • Sỏi uric acid hình thành do quá nhiều uric acid trong nước tiểu. Khi lượng axit tăng cao, khoáng chất hình thành và kết hợp với canxi cộng oxalate tạo nên sỏi. Loại sỏi này thường có ở nam giới. Một chế độ ăn giàu chất đạm động vật có thể góp phần tăng cao lượng uric acid trong cơ thể. Những người bị bệnh gout có nguy cơ bị sỏi uric acid cao.
  • Sỏi cystine hiếm gặp hơn vì sỏi này thường bị do di truyền. Cystine là một loại amino acid. Một vài người bị bệnh xistine niệu làm cho thận không thể hút lại xistine vào trong máu. Xistine không được hoà tan tốt trong nước tiểu, vì vậy những dư thừa sẽ tạo thành khối rắn là sỏi cystine. Những người bị bệnh này thường được phát hiện ngay từ khi còn trẻ và sẽ được tiếp tục theo dõi chữa trị.
Điều trị sỏi thận

Để điều trị sỏi thận thì điều quan trọng là bác sỹ phải xác định bạn bị sỏi loại gì, từ đó mới có cách điều trị hiệu quả nhất. Sẽ lấy nước tiểu để xét nghiệm ra loại sỏi, do có nhiều loại sỏi thận nên cũng có nhiều cách điều trị hiệu quả với từng loại

Có nhiều cách để loại trừ sỏi thận mà không phải phẫu thuật. Bạn có thể làm cho sỏi tự ra khi đi tiểu nếu uống nhiều nước (2-3 lít nước mỗi ngày, nếu bạn không bị bệnh gì cấm uống nhiều nước). Nếu sỏi quá lớn, có thể gây chảy máu hay làm tổn thương thận khi ra ngoài thì phải dùng cách khác.

Một số cách điều trị sỏi thận :
  • Tán sỏi ngoài cơ thể. Năng lượng tạo nên từ sóng siêu âm sẽ được chiếu qua da vào viên sỏi và phá vỡ sỏi. Bệnh nhân sẽ nằm trên một đệm nước, bác sỹ sẽ xác định vị trí viên sỏi qua chụp X-quang hoặc siêu âm. Sóng siêu âm cao hay thấp sẽ tán viên sỏi ra thành nhiều mảnh nhỏ vừa đủ để nó tự ra ngoài qua đường tiểu. Quá trình tán sỏi diễn ra trong khoảng một giờ. Tán sỏi ngoài cơ thể cũng có thể gây đau nên bác sỹ sẽ cho bạn dùng thuốc giảm đau hoặc gây tê. Sau khi trị liệu bạn có thể đi tiểu ra máu, có cảm giác hơi bỏng rát sau lưng và ở bụng hoặc đau khi viên sỏi đi ra ngoài.
  • Lấy sỏi thận qua da. Là phương pháp nội soi để lấy sỏi thận khi không tán sỏi được. Một ống soi thận sẽ được đặt vào trong thận, viên sỏi sẽ bị tán vỡ ra nhờ sóng siêu âm và sau đó được hút ra ngoài qua ống. Mặc dù cách lấy sỏi thận qua da không tạo ra vết mổ hở nhưng vẫn cần dùng thuốc gây tê và giảm đau, bệnh nhân vẫn phải nằm viện hai hoặc ba ngày. Lấy sỏi thận qua da được dùng khi viên sỏi quá lớn không thể dùng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể được hoặc khi đã tán sỏi ngoài mà không hiệu quả. Phương pháp này thường được dùng để điều trị những sỏi có nhiều cạnh nhọn, phân nhánh, sỏi khuẩn. Sau khi lấy sỏi qua da, bạn có thể cảm thấy đau ở đường rạch đặt ống soi và vùng thận. Sau khi hút hết sỏi, bác sỹ sẽ đặt ống thông dẫn nước tiểu ra ngoài, ống thông này sẽ được rút ra sau một vài ngày sau khi phẫu thuật.
  • Tán sỏi niệu quản qua nội soi là dùng một máy soi niệu quản qua bàng quang để lấy sỏi còn mắc trong niệu quản. Niệu quản là ống dẫn nước tiểu từ thận đến bàng quang. Máy soi niệu quản là máy dò có thể đi qua bàng quang lên niệu quản để xác định vị trí sỏi trong niệu quản, khi tìm được vị trí sẽ dùng sóng siêu âm để tán vụn sỏi ra. Bệnh nhân cũng cần được gây mê khi làm tán sỏi niệu quản.
Hãy thay đổi cách sống để phòng ngừa sỏi thận

Vì hơn một nửa số người đã từng bị sỏi thận sẽ bị lại, nên cách tốt nhất là chữa trị và tìm cách phòng ngừa sỏi tái phát. Cách phòng ngừa tốt nhất là thay đổi cách sống, đặc biệt là khẩu phần ăn và thói quen tập thể dục. Những người đã từng bị sỏi thận nên uống khoảng 2 đến 3 lít nước mỗi ngày (nếu không bị bệnh gì cần phải hạn chế uống nước). Ngoài ra, nếu bạn đã bị sỏi canxi, bác sỹ có thể sẽ yêu cầu bạn giảm lượng thức ăn chứa nhiều oxalate, canxi như các loại quả hạnh nhân, sô-cô-la, chè, rau chân vịt, các loại quả mọng như dâu tây. Ăn kiêng với chế độ ăn ít chất đạm cũng làm giảm nguy cơ hình thành sỏi thận

Bên cạnh việc thay đổi chế độ ăn, bác sỹ cũng có thể cho bạn uống một số loại thuốc giúp kiểm soát lượng khoáng chất phát triển trong nước tiểu.

Một số người bị sỏi thận là do tuyến giáp nhạy quá mức và tiết ra nhiều hóc-môn, cường tuyến giáp cũng làm lượng canxi được giải phóng từ xương ra nhiều, số canxi này sẽ tạo thành sỏi trong thận. Vì vậy để điều trị triệt để có thể phẫu thuật tuyến giáp và sỏi thận sẽ không bao giờ còn nữa.
Mối liên quan giữa sỏi thận và suy thận

Một số người bị sỏi thận có nguy cơ bị suy thận nếu sỏi thận không được chữa trị kịp thời. Sỏi thận ở quá lâu trong thận cũng có thể gây ảnh hưởng đến thận. Một số loại sỏi thận, có cạnh sắc nhọn có thể làm tổn thương đến các mạch máu nhỏ trong thận và tạo ra sẹo. Vì vậy cần phải tìm đúng loại sỏi và đúng cách chữa trị sỏi thận triệt để nếu phát hiện ra sỏi.

Nếu bạn có sỏi thận, nghĩa là bạn có nguy cơ bị tổn thương thận, suy thận cao hơn những người khác, vì vậy hãy thực hiện cách phòng ngừa sỏi thận và nếu đã bị sỏi thì thảo luận với bác sỹ để tìm cách chữa trị và ngăn chặn sỏi xuất hiện trở lại.

Minh Huệ
Theo Bệnh thận

Điều trị sỏi thận như thế nào?

Sỏi thận Sỏi thận là tình trạng bệnh lý đã được đề cập đến từ rất lâu và là một bệnh thường gặp, hay hình thành những cơn đau quặn thận, dễ gây biến chứng như nhiễm khuẩn, suy thận cấp hoặc mạn tính. Tùy theo kích thước, vị trí và biến chứng của sỏi gây ra mà có các chỉ định can thiệp lấy sỏi khác nhau.

Tác động của sỏi thận đối với cơ thể

Sỏi thận là một dạng của sỏi niệu. Sỏi niệu thường xuất hiện ở nơi có dòng nước tiểu yếu hoặc đường tiểu quá nhỏ, uốn khúc, bị hẹp hay tắc nghẽn, do đó những vị trí có sỏi thường là thận, niệu quản chậu hoặc sát bàng quang, cổ bàng quang, niệu đạo, lỗ sáo. Sự di chuyển của sỏi, nhất là những sỏi có gai nhọn sẽ cọ xát vào đường niệu gây ra những cơn đau lưng, đái ra máu nếu sỏi ở thận, niệu quản. Còn sỏi tại bàng quang, niệu đạo sẽ gây đái buốt, đái rắt, đái khó. Nếu bị kẹt trong cuống đài thận, sỏi sẽ chèn ép làm bế tắc cuống đài thận nên đài thận giãn nở, lâu dần thận sẽ giãn mỏng như một túi nước. Khi các đài thận bị căng trướng nước tiểu, sẽ tạo ra áp lực cao tác động vào thần kinh thận và vỏ thận gây ra cơn đau quặn thận.

Khi sỏi cọ xát vào đường niệu thì nguy cơ niêm mạc bị phù nề, viêm, là điều kiện tốt cho vi khuẩn xâm nhập gây viêm nhiễm đường tiểu. Người bệnh sẽ thấy đau lưng, đái buốt, đái rắt, đái đục. Nếu nhiễm khuẩn nặng sẽ dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như suy thận. Nếu thận mủ toàn diện có thể phải cắt bỏ thận. Bế tắc đường tiểu làm tồn đọng nước tiểu gây viêm nhiễm lâu ngày sẽ dẫn đến xơ hóa thành đường tiểu kể cả đài thận. Hậu quả của xơ hóa sẽ dẫn đến giảm chức năng co bóp đường tiểu, chít hẹp làm bế tắc đường tiểu, tồn đọng nước tiểu. Viêm nhiễm nặng ở đường tiểu còn làm hoại tử đường tiểu, xuất hiện các lỗ rò ở bàng quang, niệu quản. Đã có những trường hợp vỡ thận và vỡ bàng quang do sỏi. Sự hiện diện lâu ngày của sỏi hai bên niệu quản hay sỏi thận một bên còn bên kia sỏi niệu còn dẫn đến hiện tượng vô niệu (không có nước tiểu). Chức năng thận sẽ bị giảm nếu có sỏi ở hai bên thận, nhất là khi có sự kết hợp của viêm nhiễm gây ra suy thận.

Xử trí sỏi thận như thế nào?

Chính vì những biến chứng nguy hiểm mà sỏi thận gây ra nên có những trường hợp cần can thiệp cấp cứu để lấy sỏi ngay, có trường hợp có thể trì hoãn lấy sỏi nghĩa là can thiệp lấy sỏi chủ động theo lịch như mổ lấy sỏi hoặc tán sỏi. Có trường hợp không cần can thiệp gì đối với sỏi nhỏ không gây các biến chứng đau nhiều, đái ra máu hoặc gây biến chứng viêm nhiễm ở thận.

Về điều trị sỏi thận, với bất kỳ loại sỏi nào cũng cần :

- Uống nhiều nước, đảm bảo lượng nước tiểu khoảng trên 2,5 lít/ngày.

- Điều trị các đợt nhiễm khuẩn, viêm nhiễm ở thận.

- Điều trị các biến chứng hay các yếu tố thuận lợi dễ hình thành sỏi.

Khi biết được nguyên nhân hay thành phần của sỏi thì phải điều trị theo nguyên nhân.

Ngày nay có nhiều phương pháp can thiệp lấy sỏi: Mổ lấy sỏi, tán sỏi ngoài cơ thể và nội soi lấy sỏi. Chọn cách thức điều trị cũng như tiên lượng của sỏi thận phụ thuộc vào 2 yếu tố chính: kích thước và vị trí của sỏi.

Về kích thước của sỏi :

Là đường kính lớn nhất đo được của sỏi, khi sỏi nhỏ hơn 5 mm và sỏi nằm ở đài bể thận thì cố gắng tác động để sỏi có thể rơi xuống bàng quang một cách tự nhiên và sỏi có thể được đái ra ngoài.

Vị trí của sỏi :

Sỏi thận với kích thước nhỏ hơn 2cm thường được điều trị bằng phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể, tuy nhiên nếu sỏi nằm ở phía đài dưới của thận thì cho kết quả kém hơn. Trong trường hợp sỏi nằm ở vị trí này thì giới hạn chỉ định tán sỏi khi nhỏ hơn 1cm. Phương pháp mổ lấy sỏi qua da vẫn là một cách điều trị tương đối an toàn và hiệu quả nên được chỉ định cho các trường hợp sỏi thận có kích thước lớn, không có khả năng tán hoặc lấy sỏi qua nội soi.

Ngày nay, với sự phát triển của nội soi niệu quản thì ngoài phương pháp tán sỏi ngoài cơ thể cũng có thể lấy sỏi qua nội soi. Chỉ định lấy sỏi qua nội soi phải dựa vào từng trường hợp cụ thể, thể trạng bệnh nhân, chức năng thận khi phát hiện sỏi cũng như kinh nghiệm của thầy thuốc và phương tiện của cơ sở điều trị. Khoảng 50% bệnh nhân mang sỏi nhỏ không có triệu chứng sẽ trở nên có triệu chứng trong vòng 5 năm. Sỏi san hô ở thận thường liên quan đến nhiễm khuẩn. Do vậy những trường hợp sỏi to thì nên điều trị ngay khi phát hiện ra sỏi.

Nhiều người bệnh sỏi thận đã đau nhiều nhưng vì họ có mắc đồng thời các bệnh tim mạch nên rất e dè khi quyết định nội soi, tán sỏi ngoài cơ thể hay phẫu thuật. Đối với các trường hợp bị sỏi thận có bệnh tim mạch đi kèm như hở, hẹp van hai lá, 3 lá, suy tim... nếu ở mức độ nhẹ thì vẫn có thể tiến hành tán sỏi ngoài cơ thể được, ngay cả khi phải phẫu thuật lấy sỏi. Tuy nhiên các trường hợp này cần có sự phối hợp giữa bác sĩ tim mạch, tiết niệu và ngoại khoa để có được cách đánh giá và biện pháp điều trị tốt nhất.


Theo TS. Đỗ Gia Tuyển
Bệnh viện Bạch Mai

Ghép thận khác nhóm máu - cơ hội mới cho người suy thận

Dr.Lye Wai Chong Trước đây, người bệnh chỉ được ghép thận khi có người cho cùng nhóm máu thì nay khác nhóm máu cũng có thể ghép được. VnExpress.net phỏng vấn bác sĩ Lye Wai Choong, Tập đoàn Y tế ParkwayHealth, (Singapore) - người thực hiện ca ghép thận khác nhóm máu đầu tiên ở Đông Nam Á.

- Là người trực tiếp thực hiện kỹ thuật này, ông có thể chia sẻ vài điều về ca bệnh đầu tiên?

- Ca đầu tiên được ghép thận khác nhóm máu là anh Khairul Anuar bin Ibni, 45 tuổi. Mặc dù đã chạy thận cả 6 ngày mỗi tuần nhưng vì mắc bệnh lâu năm nên các chất độc tích tụ do thận suy đã làm hỏng chức năng tim. Ghép thận thành công sẽ giúp loại bỏ sạch chất độc và phục hồi chức năng tim. Nhưng nếu không được ghép, anh sẽ không sống được bao lâu.

Tuy nhiên, anh Khairul không thể tìm được người hiến thận cùng nhóm máu. Người duy nhất cho anh thận là vợ nhưng chị lại có nhóm máu A, còn anh mang nhóm máu O.

Tại Việt Nam, hiện chưa có số liệu thống kê chính thức về bệnh thận mạn tính, tuy nhiên ước tính hàng năm có 8.000 bệnh nhân suy thận mới. Nguyên nhân gây bệnh thận chủ yếu là viêm cầu thận mạn tính, hoặc là biến chứng của huyết áp cao, đái tháo đường...

Đặc biệt, cứ 10 bệnh nhân suy thận giai đoạn cuối (cần được lọc máu) thì đến 9 người tử vong vì không được thay máu. Nguyên nhân là do số lượng bệnh nhân quá lớn nhưng điều kiện kinh tế, kỹ thuật chưa cho phép để tiến hành lọc cho tất cả.
Ghép thận không quá khó nhưng vấn đề là phải làm sao để cơ thể người bệnh không đào thải quả thận mới là điều quan trọng. Điều này càng khó hơn khi ghép thận khác nhóm máu. Trong nhiều năm nay rất ít bác sĩ thử ghép thận khác nhóm máu vì nguy cơ rủi ro rất cao. Như ca đầu Căn đều Hai bêntiên này, bệnh nhân nhóm máu O từ trong cơ thể có kháng thể nhóm A và B. Ngày 27/5/2008, chúng tôi đã quyết định thực hiện ghép khác nhóm máu lần đầu tiên.

- Việc ghép thận khác nhóm máu khác gì so với ghép thận cùng nhóm máu?

- Cấy ghép không cùng nhóm máu được thực hiện đầu tiên tại Thụy Điển và sau đó ở Nhật. Năm 2000, Mỹ và châu Âu cũng đã áp dụng kỹ thuật cấy ghép tiên tiến này.

Thực ra thì cách ghép thận này cũng như những ca ghép thận thông thường khác, điểm khác biệt ở đây là giai đoạn chuẩn bị tiền phẫu thuật phải thêm công đoạn loại bỏ kháng thể trong người bệnh để khi ghép không bị đào thải. Còn sau khi phẫu thuật, bệnh nhân cũng phải uống thuốc chống đào thải như người ghép thận bình thường khác.

- Khi thực hiện ca ghép, ông đã gặp phải những khó khăn gì?

Với chúng tôi đây là ca đầu tiên, mà cái gì mới lúc đầu bao giờ cũng khó, cũng là một thử thách thực sự nên càng phải làm cẩn thận. Khâu mấu chốt là phải loại bỏ các kháng thể nhóm máu A trong cơ thể người bệnh thật thấp, đủ an toàn để có thể ghép thận.

Điều không may là, anh Khairul có quá nhiều kháng thể loại A trong máu. Vì thế, anh đã phải trải qua 7 đợt hấp thụ miễn dịch và 2 đợt điều trị bằng huyết tương đã tinh chế mới có thể loại bỏ lượng kháng thể loại A trong máu đủ thấp. Hơn nữa, tình trạng sức khỏe của bệnh nhân không được tốt, tim rất yếu vì thế độ rủi ro càng cao hơn.

- Ông có thể nói rõ hơn về công đoạn loại bỏ kháng thể này?

- Đây là một kỹ thuật mới của châu Âu, khá đơn giản và an toàn. Máu đi qua thiết bị lọc và kháng thể sẽ bị giữ lại. Chỉ cần loại bỏ lượng kháng thể trong cơ thể đủ thấp là được nhưng rủi ro ở đây là làm thế nào biết như thế nào là đủ thấp.

Ở ca đầu tiên, chúng tôi cố gắng lọc càng nhiều kháng thể càng tốt, khoảng 10 ngày. Nhưng với các ca sau này, chỉ cần 7 ngày thậm chí ca gần đây nhất là 5 ngày là được.

Sau phẫu thuật, do kháng thể vẫn tiếp tục được cơ thể sản sinh ra, dù với lượng nhỏ hơn nhiều, nên bệnh nhân phải làm tiếp 3-4 đợt điều trị lọc kháng thể nữa.

- Ông đánh giá như thế nào về tỷ lệ thành công của cách ghép thận này?

-Tỷ lệ thành công khoảng 90-95%, gần tương đương với ghép cùng nhóm máu (tỷ lệ thành công 98%). Bác sĩ càng có kinh nghiệm tỷ lệ thành công càng cao. Với ca ghép đầu tiên, được hơn một năm, sức khỏe anh Khairul vẫn tốt, sinh hoạt bình thường.

Chỉ hai ngày sau được ghép, anh đã bắt đầu đi lại được mà không cảm thấy đau. Trước đây mỗi bước đi của anh đều nặng trịch và đau nhức như có kim châm, các khớp sưng tấy. Đến nay, chúng tôi đã thực hiện được 5 ca ghép thận khác nhóm máu.

- Chi phí những ca ghép này như thế nào?

- Mỗi ca ghép thận như thế tốn kém từ 1,5 đến 2 tỷ VNĐ, tức là gấp khoảng 2 lần so với những ca ghép bình thường. Số tiền chênh lệnh chủ yếu là do tiền mua thiết bị lọc kháng thể.

Dù thế, thành công của những ca ghép thận khác máu này mở ra một con đường cho những bệnh nhân thận. Thực tế là không phải dễ khi tìm được người cho thận cùng nhóm máu. Nếu được ghép thận, họ sẽ sống lâu gấp 2 lần so với chạy thận.

Nam Phương
Theo VnExpress

10 Dấu hiệu của bệnh thận

Bệnh thận Rất nhiều người mắc bệnh thận mạn nhưng không biết, bởi vì những dầu hiệu ban đầu có thể là rất khó thấy. Có thể mất nhiều năm để bệnh thận mãn (tiếng anh viết tắt là CKD) tiến triển thành suy thận. Một số người mắc bệnh thận mãn sống đến hết đời của họ mà chưa từng tiến tới suy thận.

Tuy nhiên, với nhiều người tại bất cứ giai đoạn nào của bệnh thận, thì hiểu biết về nó vẫn là tối ưu. Biết được các dấu hiệu của bệnh thận có thể giúp bạn có được cách điều trị tốt nhất. Nếu bạn hay một ai đó mà bạn biết có từ 1 triệu chứng trở nên trong số các triệu chứng của bệnh thận dưới đây, hay là khi bạn lo rằng bạn có vấn đề với thận của bạn, hãy đi khám bác sĩ để được xét nghiệm máu và nước tiểu. Hãy nhớ rằng, nhiều triệu chứng có thể không do bệnh thận gây nên. Nhưng cách duy nhất để biết nguyên nhân của các triệu chứng mà bạn đang có là đi khám bác sĩ.

Triệu chứng 1 : Những thay đổi khi đi tiểu

Thận tạo ra nước tiểu, do vậy khi thận bị hỏng, có thể có những thay đổi đối với nước tiểu như sau

* Bạn có thể phải thức dậy vào đêm để đi tiểu

* Nước tiểu có bọt hay có nhiều bong bóng. Bạn có thể đi tiểu nhiều lần hơn bình thường, hay lượng nước tiểu nhiều hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt

* Số lần bạn đi tiểu ít hơn bình thường, hay lượng nước tiểu ít hơn bình thường, nước tiểu có màu tối.

* Nước tiểu của bạn có thể có máu

* Bạn có thể cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn

Mô tả của bệnh nhân :

“Khi bạn vào nhà vệ sinh nhiều hơn, bạn không thể đi tiểu hết. Và sau đó bạn vẫn cảm thấy giống như sự căng tức xuôi xuống dưới, thật sự là rất căng tức”

“Nước tiểu là thứ đầu tôi bắt đầu để ý đến. Sau đó tôi vào nhà vệ sinh thường xuyên hơn và khi vào nhà vệ sinh, tôi không thể đi tiểu. Bạn nghĩ rằng bạn cần phải đi tiểu, nhưng khi vào đến nhà vệ sinh: kết quả là chỉ hai hay ba giọt mà thôi”

“Tôi đi tiểu ra máu. Nước tiểu có màu rất sẫm giống như màu nho. Và khi tôi tới bệnh viện khám, ở đó họ lại nghĩ rằng tôi nói dối về màu của nước tiểu”

Triệu chứng 2 : Phù

Những quả thận bị hỏng không loại bỏ chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể bạn khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt và/hay tay

Mô tả của bệnh nhân :

“tôi nhớ rằng tôi bị phù rất nhiều ở cổ chân. Cổ chân của tôi to đến nỗi tôi không thể đi giày nữa”

“Với chị tôi, tóc cô ấy bắt đầu rụng, cô ấy gầy đi, nhưng mặt thì thực sự là căng phồng lên, bạn biết đấy mọi thứ cứ giống như vậy cho đến khi cô ấy phát hiện ra rằng cô ấy mắc bệnh”

“Đi làm việc vào một buổi sáng, cổ chân tôi sưng phồng lên, thực sự là phồng to, và tôi rất rất mệt khi đi bộ đến bến đỗ xe bus. Và lúc đó tôi biết rằng tôi phải đi khám bác sĩ”

Triệu chứng 3 : Mệt mỏi

Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormon gọi là erythropoietin (đọc là a-rith'-ro-po'-uh-tin), hormon này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang oxy. Khi thận bị hỏng (suy), chúng tạo ra ít erythropoietin hơn. Do vậy cơ thể bạn có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng. Tình trạng này được gọi là thiếu máu. Và bệnh này có thể điều trị được.

Mô tả của bệnh nhân :

“tôi đột ngột cảm thấy mệt lả và không còn một chút tỉnh nào.”

“tôi đã ngủ rất nhiều. Tan sở tôi về nhà và lên giường đi ngủ ngay”

“Nó như thể lúc nào bạn cũng cực kì mệt mỏi. Bị mệt, và sức khỏe của bạn như bị chảy đi hết thậm chí khi bạn chẳng làm gì cả”

Triệu chứng 4 : Ngứa/phát ban ở da

Thận loại bỏ các chất thải ra khỏi mãu. Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu của bạn có thể gây ra những trận ngứa ở mức độ nặng.

Mô tả của bệnh nhân :

“Đó không hẳn chỉ là một trận ngứa ở da, mà nó chạy dọc xương. Tôi đã phải dùng bàn chải mà đào lên da thịt. Lưng của tôi rớm máu do bị cào quá nhiều.”

“Da tôi đã bị rách. Tôi đã rất ngứa và gãi rất nhiều”

Triệu chứng 5 : Vị kim loại ở trong miệng/hơi thở có mùi amoniac

Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng có thể để ý thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa, hay bạn giảm cân bởi vì bạn cảm thấy không thích ăn

Mô tả của bệnh nhân :

“Bạn sẽ cảm thấy có vị lợm ở trong mồm bạn, Gần giống như bạn vừa uống sắt vậy.”

“Bạn không còn thèm ăn như trước đây nữa”

“trước khi tôi bắt đầu lọc máu, tôi đã giảm khoảng 10 pound trọng lượng”

Triệu chứng 6 : Buồn nôn và nôn

Sự tích tụ dữ dội của các chất thải trong máu (chứng ure huyết) cũng có thể gây nên tình trạng buồn nôn và nôn. Chán ăn có thể dẫn tới sút cân.

Mô tả của bệnh nhân :

“tôi có rất nhiều cơn ngứa, và tôi bị nôn, nôn tất cả mọi thứ ra ngoài. Tôi không thể giữ bất cứ đồ ăn thức uống nào ở lại trong dạ dày cả.”

“khi tôi nôn, tôi không thể ăn, và lúc đó tôi đã có một thời gian khó khăn khi uống thuốc hạ huyết áp.”

Triệu chứng 7 : Thở nông

Sự khó thở của bạn có thể có liên quan tới thận theo 2 cách sau, thứ nhất đó là chất lỏng dư thừa trong cơ thể của bạn tích tụ trong hai lá phổi. Và thứ hai, chứng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy) có thể khiến cơ thể bạn đói oxy và sinh ra chứng thở nông

Mô tả của bệnh nhân :

“những lúc tôi thở nông, điều đó sẽ làm tôi sợ hãi. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể ngã hoặc sẽ có cái gì đó xảy ra với tôi, do vậy thường thì tôi đi tìm một chỗ để ngồi trong chốc lát”

“ Tôi không thể ngủ vào ban đêm, tôi không thể thở được, nó giống như tôi bị chết chìm. Và, tôi không thể bước đi đâu được nữa. Điều đó thật là tệ”

“bạn đi lên tầng trên để dọn phòng và lúc đó bạn hết thở được nữa, hay khi bạn làm việc bạn trở nên mệt mỏi và bạn phải ngưng công việc lại”

Triệu chứng 8 : Cảm thấy ớn lạnh

Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lanh, thậm chí khi bạn đang ở trong phòng có nhiệt độ ấm.

Mô tả của bệnh nhân :

“tôi để ý thấy rằng thỉnh thoảng, tôi thực sự lanh, lúc đó tôi có những cơn rùng mình”

“Đôi khi tôi trở nên rất rất lạnh. Thời tiết lúc đó có thể nóng, và tôi thì vẫn lạnh”

Triệu chứng 9 : Hoa mắt chóng mặt và mất tập trung

Thiếu máu liên quan đến suy thận nghĩa là não của bạn sẽ không được cung cấp đủ oxy nữa. Điều này có thể dẫn tới các vấn đề về trí nhớ, gây ra sự mất tập trung, hoa mắt và chóng mặt.

Mô tả của bệnh nhân :

“Tôi nhớ là tôi đã đề cập với vợ tôi về trí nhớ của tôi rằng tôi không thể nhớ những gì tôi đã làm từ tuần trước, hay có thể là 2 hôm trước thôi. Tôi thực sự không thể tập trung, vì tôi thích chơi giải ô chữ và đọc nhiều, nhưng không thể tập trung được.”

“tôi đã luôn luôn mệt mỏi và hoa mắt chóng mặt.”

“tình trạng đó xấu tới độ, tôi đang làm việc, và thật đột ngột tôi hoa mắt chóng mặt. do vậy tôi đã nghĩ rằng có lẽ là huyết áp của tôi hay bệnh tiểu đường của tôi trở nên xấu đi. Đó là những gì mà tôi đã nghĩ”

Triệu chứng 10 : Đau chân/cạnh sườn.

Một số người mắc các bệnh về thận có thể bị đau ở lưng hay sườn điều này là do thận bị ảnh hưởng. Bệnh thận đa nang, có thể khiến các nang trong thận chứa đầy chất lỏng và to lên, và đôi khi thì gan, cũng có thể gây đau.

Mô tả của bệnh nhân :

“Khoảng 2 năm trước, tôi lúc nào cũng vào nhà vệ sinh, và phần thấp của lưng luôn luôn đau đớn, tôi tự hỏi vì sao lại có chuyện như vậy….các bác sĩ đã chuẩn đoán rắng đó là do các vấn đề ở thận”

“Và sau đó bạn phải thức dậy trong đêm, lúc đó bạn bị đau ở sườn và lưng, bạn không thể nhúc nhích được.”

“vào ban đêm, tôi hay bị đau vùng sườn. Nó còn tệ hơn là đau nhức do làm việc nặng.”

Theo Bệnh thận

Chế độ ăn cho người suy thận

Trước khi được lọc máu, người bị suy thận phải theo chế độ ăn giới hạn về muối và chất đạm (thịt, cá, tôm, cua, gà, vịt…).

Chế độ ăn cho người suy thận


Thận nhân tạo giúp loại bỏ khỏi cơ thể các chất dư thừa do ăn uống đưa vào. Tuy nhiên, chức năng của nó không thể hoàn hảo như thận bình thường, nên chế độ ăn của bệnh nhân lọc thận có thể thay đổi hơn so với trước khi lọc thận, nhưng không được ăn uống như bình thường.

Nước và trọng lượng cơ thể

Suốt trong thời gian dài bị suy thận và trước khi được chạy thận nhân tạo, người bệnh phải ốm đi, vì nếu cân nặng không giảm nghĩa là đã có sự ứ đọng muối và nước trong cơ thể. Có nhiều bệnh nhân phải mất đi hơn 10kg trong một thời gian ngắn chạy thận nhân tạo do khối lượng nước và muối dư thừa đã được rút bỏ, và nhờ vậy nhiều trường hợp huyết áp cao sẽ mất đi mà không cần dùng thuốc.

Người bệnh phải theo dõi cân nặng mỗi ngày vào một giờ cố định với trang phục giống nhau và dùng cùng một cân. Không được tăng cân hơn 0,5kg/ngày. Nếu cân nặng tăng quá nhiều, nghĩa là đã dùng quá nhiều nước, muối. Khi đó bắt buộc phải giới hạn lượng nước uống và kiểm tra chế độ dinh dưỡng.

Cảm giác khát nước tùy thuộc rất nhiều vào số lượng muối ăn. Do đó, nếu giảm được muối trong thức ăn, số lượng nước đưa vào cơ thể sẽ tự động giảm đi vì bệnh nhân ít cảm thấy khát nước hơn.

Theo nguyên tắc, bệnh nhân lọc thận có thể dùng tổng cộng khoảng 500ml/ngày (nước, cà phê, cháo, súp, canh...) và có thể gia tăng thêm một lượng bằng với lượng nước tiểu còn lại, tức là:

Lượng nước uống/ngày (tính cả lượng nước có trong thức ăn) = 500ml + lượng nước tiểu.

Thí dụ: Nếu người bệnh đi tiểu 200ml/ngày thì có thể dùng tổng cộng 700ml nước/ngày.

Cần giới hạn nước uống vì trong tất cả các loại thức ăn cũng đều có nước, nhất là trái cây và rau.

Sự theo dõi cân nặng là yếu tố cơ bản và chính yếu. Sau các tuần lễ đầu chạy thận nhân tạo, nếu chế độ dinh dưỡng được tuân thủ nghiêm ngặt, người bệnh có thể dần dần lên cân thật sự nhưng huyết áp không tăng. Tuy nhiên, cân nặng ổn định với thể trạng khỏe mạnh bình thường chỉ có được sau 6 tháng đến 1 năm chạy thận nhân tạo.

Muối

Bình thường cơ thể hấp thu khoảng 8-12g muối mỗi ngày, phần lớn số muối này sẽ được thải bỏ qua đường tiểu vì không cần thiết cho cơ thể. Khi cả hai thận đều bị suy, muối sẽ không được loại bỏ mà ứ lại trong cơ thể; lúc đó phù, cao huyết áp sẽ xuất hiện, gây suy tim, ứ nước trong phổi và tổn thương các mạch máu. Vì vậy phải giới hạn muối tối đa để tránh cao huyết áp. Khi nào huyết áp chưa bình thường tức là cơ thể còn chứa quá nhiều muối.

Thận nhân tạo có thể loại bỏ bớt muối với điều kiện lượng muối ăn vào không quá nhiều. Khi huyết áp trở lại bình thường, bệnh nhân có thể dùng thêm một ít muối nhưng phải rất cẩn thận, càng cữ được càng tốt.

Bệnh nhân không được tăng cân quá 0,5kg/ngày và huyết áp trước khi chạy thận nhân tạo không được quá 160/90mmHg.

Nếu tăng cân quá nhiều hoặc huyết áp trước khi chạy thận quá cao, cần kiểm tra xem có phải đã dùng quá nhiều muối hay không (sự tăng cân quá nhiều thường là do dùng muối quá nhiều). Khi tăng cân nhiều, cần phải rút nhiều nước trong lúc chạy thận, điều này không dễ dàng và thường gây nhiều tai biến và biến chứng.

Chế độ kiêng muối không những bắt buộc không được cho thêm muối vào thức ăn mà còn phải kiêng cả các loại thức ăn có chứa nhiều muối như khô, mắm, tương, chao...

Chất kali

Chất kali bị ứ đọng lại trong cơ thể khi bị suy thận, kali trong máu trên 6,5mmol/l sẽ cực kỳ nguy hiểm vì có thể làm tim loạn nhịp và đưa tới ngừng tim đột ngột, gây tử vong bất cứ lúc nào mà không có triệu chứng báo trước. Vì vậy, bệnh nhân suy thận cần tránh các thức ăn chứa nhiều kali như trái cây, nhất là cam, chuối, nho, đào, chanh, bưởi, dâu... Một số loại trái cây chứa ít kali hơn như táo, lê, dưa hấu... Các loại trái, hạt khô như đậu phộng, hạt điều, hạt dẻ, sô-cô-la, cà phê chứa kali nhiều hơn chuối đến 10 lần.

Các loại rau tươi cũng có nhiều kali nhưng có thể dùng được sau khi đun nấu 2-3 lần và bỏ nước đã luộc rau. Gạo, nui, mì... chứa ít kali.

Để làm giảm phần nào lượng kali trong máu, có thể dùng thêm 5-15g/ngày Keyexalate. Thuốc gây táo bón hiện thời giá trên thị trường còn khá cao.

Chất đạm

Đạm là chất cấu tạo chính của bắp thịt, là chất không thể thiếu cho đời sống của các tế bào trong cơ thể. Nhưng sử dụng các chất này sẽ sinh ra urê và urê bị tích tụ lại trong cơ thể khi bị suy thận. Vì vậy, trước khi lọc thận, người bệnh phải theo chế độ ăn giảm đạm; Nhưng khi đã được chạy thận thì thận nhân tạo thải được urê khỏi cơ thể, nên người bệnh có thể và bắt buộc phải ăn vào một lượng đạm như người bình thường.

Trong khẩu phần ăn cần phải có thịt, gà, cá, trứng (lòng trắng) vì các loại này chứa đạm có chất lượng cao, giúp bù đắp cho hoạt động thường ngày của hệ cơ. Ngoài đạm động vật, cũng có thể dùng đạm có nguồn gốc thực vật như đậu nành, đậu xanh..., nhưng cần cẩn thận vì các loại đậu chứa khá nhiều kali.

Phosphore

Phosphore ít được lọc qua thận nhân tạo, phosphore có trong hầu hết các loại thức ăn, nhất là các loại có chứa nhiều chất đạm, đặc biệt là sữa.

Khi phosphore trong máu tăng, sẽ làm tăng hoạt động tuyến cận giáp và cùng với calci bám đóng vào thành mạch máu.

Các thuốc ngăn cản sự hấp thu phosphore ở máu không đủ để kiểm soát tình trạng tăng phosphore máu, vì vậy cần giảm các loại thức ăn có chứa nhiều phosphore như sữa, pho-mát, cua, lòng đỏ trứng, thịt thú rừng, các loại rau quả khô.

Năng lượng

Cần phải được cung cấp đầy đủ để sử dụng chất đạm. Bình thường cơ thể cần 35-40calo/kg/ngày, có thể được cung cấp dưới dạng đường hay dầu mỡ; đường có nhiều trong các loại thức ăn chế biến từ lúa và lúa mì như bánh mì, gạo, nui.

Sinh tố


Người bình thường với chế độ ăn đầy đủ không cần cung cấp thêm sinh tố. Tuy nhiên, người chạy thận sẽ bị mất đi một số sinh tố, nhất là các loại sinh tố tan trong nước như nhóm sinh tố B, C. Vì vậy có thể phải cung cấp thêm các sinh tố này.

Tóm lại, với bệnh nhân suy thận, không bắt buộc phải cấm tuyệt đối bất kỳ loại thức ăn nào, nhưng chỉ nên dùng với số lượng vừa phải và khẩu phần ăn hàng ngày phải quân bình đầy đủ đạm, năng lượng, sinh tố. Cần chú ý hạn chế các thức ăn chứa nhiều kali và phosphore.


Theo TS. BS. PHAN VĂN BÙI
TT Đào tạo & Bồi dưỡng CB Y

.
Chuyen do day
Chuyen do day

Các bài mới đăng

Các nhận xét mới

Bài được xem nhiều nhất